“Ma làng” và thi sĩ bạc mệnh

Tháng Bảy 23, 2009 at 5:19 chiều 24 comments

(Rút từ tập: “Chân dung của ruợu”-Phạm Ngọc Tiến)

I

Sẽ không có những dòng viết này nếu như Ngô Đăng Khoa, vị thi sĩ tôi gọi là bạc mệnh khi anh từ giã cõi đời ở cái tuổi 55 không còn trẻ nhưng chưa hẳn già với sự khắc nghiệt tận cùng của số phận. Không thể không cầm bút viết ít dòng tri ân về anh, bởi nếu không có anh thì có lẽ “Ma làng” chưa thể ra đời được. “Ma làng” là cái gì, tại sao nó lại liên quan đến một nhà thơ bạc mệnh? Xin thưa “Ma làng” tức là bộ phim 19 tập về nông thôn miền núi vừa phát sóng trên VTV1 được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn đất Tuyên Quang Trịnh Thanh Phong mà tôi là đồng biên kịch với đạo diễn Nguyễn Hữu Phần. Ui dào, tưởng gì, cái món phim truyền hình ở xứ ta có gì đáng bàn mà phải thi sĩ với bạc mệnh gắn vào, rách việc. Sẽ có những người không ưa phim nói thế, cũng chẳng sai. Lằng nhằng quá thể, nhưng sự đời nó là vậy thì phải nói vậy, cái anh thi sĩ bạc mệnh kia chưa đọc một dòng kịch bản, cũng không xem một phút phim nào (anh mất vì căn bệnh ung thư trước khi phim phát sóng chừng 3 tháng) nói không quá lại chính là nguồn căn nguyên cớ để hơn trăm trang tiểu thuyết chuyển thành kịch bản của bộ phim không dám nói hay nhưng ít nhiều cũng tạo được sức hút dư luận.



Cuộc đời có những gặp gỡ hết sức lạ lùng, tình cờ ngẫu nhiên nhưng lại in hệt như một sắp xếp tiền định. Cái sự gặp của tôi và Ngô Đăng Khoa cũng vậy. Bây giờ khi mọi chuyện xong xuôi, phim đã phát sóng hết và ông cũng đã phiêu diêu ở một nơi nào đó rất xa, ngẫm nghĩ lại tôi mới giật mình để nhận ra rằng sự ra đời của “Ma làng” kỳ lạ lại được quyết định ở chính cái sự gặp vô tình này. Âu cũng là số phận.

Cuối năm 2005 tôi lên Tuyên Quang dự đám cưới con trai nhà văn Trịnh Thanh Phong, tác giả cuốn tiểu thuyết “Ma làng”. Đây là cuốn sách được in từ năm 2001. Vốn là một cuốn sách khá hay viết rất mạnh tay về những vấn đề nông thôn miền núi trước thời kỳ khoán 10 bằng một thứ giọng đặc biệt sắc sảo đầy trào lộng có sức công phá mạnh với những nhân vật vô cùng ấn tượng về tính cách. Cũng phải nói thật cuốn sách không có tiếng vang vì có lẽ tác giả cũng như nhiều nhà văn tỉnh lẻ khác luôn chịu thiệt thòi về xuất bản cũng như quảng bá. Tôi đọc thấy giật mình vì những vấn đề đặt ra trong đó. Diện mạo nhân vật với ngôn ngữ miền núi sống động luôn ám ảnh tôi. Nhưng cũng thời điểm ấy tôi cùng nhà văn Khuất Quang Thụy đã viết kịch bản “Đất và người” chuyển thể từ tiểu thuyết “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của nhà văn Nguyễn Khắc Trường với những vấn đề tương tự về nông thôn nên chưa thể triển khai chuyển thể được. Tôi luôn ấp ủ một ngày nào đó sẽ chuyển “Ma làng” thành phim nhưng cứ lần lữa mãi vì lý do trên một phần, phần khác vì quy mô phim “Ma làng” với bối cảnh miền núi cũng phải có thời gian chuẩn bị kỹ càng. Lại nói chuyện đám cưới. Vào thời điểm ấy tôi vừa phát hiện bệnh hiểm nghèo nên buộc phải kiêng ruợu. Trong đám thực khách có một số nhà văn từ Hà Nội lên chén chú chén anh với đám nhà văn Tuyên Quang và Hà Giang xuôi về. Đừng nói đám cưới, bất cứ cuộc hội ngộ nào kiểu này thì cánh nghệ sĩ bốn mùa kia bao giờ cũng vui vẻ tung trời. Tôi biết thân biết phận ngồi dạt ra nép vào góc, cũng vờ vẫn nâng ly cụng chan chát nhưng tiệt không dám dốc vào cuống họng giọt nào. Dối trá cũng được, có thân thì tự thương lấy mình, cứ thế tôi tránh ruợu như tránh đòn thù, thoát được ly nào khấp khởi mừng như bắt được của ly ấy. Đám văn sĩ thực khách mải la đà cũng dần quên bản mặt cái thằng tôi ở mâm tiệc. Thêm nữa ông nhà văn Trung Trung Đỉnh đi từ Hà Nội, một tiền bối của làng ruợu văn chương, là thầy văn kiêm thầy rượu của tôi, cũng động lòng trắc ẩn nên thi thoảng lúc nâng ly lại nhắc mọi người: “Quên cái thằng Tiến tham sống sợ chết ấy đi. Bây giờ nó là đàn bà!”. Tiếng cười cợt của dân rượu lại làm thằng tôi khoái trá. Vâng, kính các bác, sống thì ai chả ham, hèn cũng được, đàn bà càng tốt, khoác váy mặc xịp cũng xong miễn là các bác tha cho em, nhất là bác “tửu”, chai lớn, chai bé, can nhỏ, can to em đánh đu hầu hạ bác mấy chục năm nay rồi, hết vào Nam ra Bắc, miền xuôi, mạn ngược, biển cả, núi cao, rừng sâu, đất Tây, đất Ta đủ cả, giờ thì bác cứ việc khinh em, tránh em đi cho em còn có cơ sống. Nhưng rồi khắc tinh ruợu của tôi xuất hiện. Đó chính là Ngô Đăng Khoa.

Bữa tiệc gần tàn, một người vừa phải không cao không thấp, không béo không gầy, ngoài năm chục tuổi, nom khắc khổ, quần áo xoàng xĩnh đơn giản, mặt mũi tưng bừng đỏ lựng từ rãnh dọc dọc rãnh ngang nhất là cái mũi đỏ tía lừ đừ tiến vào. Đi đến đâu anh ta cũng bắt tay, cụng chén ngửa cổ quật tơi bời hết chén này đến chén khác. Tôi rùng mình vì khiếp sợ. Lúc ấy đột nhiên trong tôi liên tưởng đến Triệu Tử Long thời Tam quốc bên Tàu một mình đeo ấu chúa xông xáo giữa vòng vây trùng điệp chém tướng, đâm quân cứu chúa. Tiếng ai đó ở mâm của tôi reo lên: “Ngô Đăng Khoa”. Tôi hoàn toàn không biết tẹo nào nhân vật này. Cũng phải đến mươi lăm phút tính từ lúc vào anh ta mới đến được chỗ chúng tôi ngồi. Trịnh Thanh Phong giới thiệu. Chưa kịp nghe hết Khoa đã ríu rít: “Bận quá, bận quá. Nhưng không sao vẫn còn đến kịp.”. Rồi Khoa lôi từ túi quần ra một nắm tiền không nhỏ dúi vào tay chủ nhà: “Em không kịp chuẩn bị, thôi thầy miễn cho em cái khoản phong bì.”. Trịnh Thanh Phong quắc mắt: “Cất đi. Không tiền nong gì hết, chú làm thế là tôi không chơi nữa.”. Anh ta cười hà hà cất tiền như không có chuyện gì: “Thầy mắng thì em thôi, để em mừng cháu sau vậy.”. Dường như quên ngay chuyện ấy, Khoa bập vào Trung Trung Đỉnh bằng một ly sóng sánh: “Để em chào bàn nhà văn Trung ương.”. “Chát!”. Tôi nghe rõ âm thanh của sành sứ và vội quay mặt để tránh nhưng không được, anh ta dí ly ruợu sát sạt mặt tôi: “Nhà văn Trung ương này chắc ít tuổi hơn tôi, không được khinh nhau thế”. Tôi dở mếu dở cười. Trung Trung Đỉnh có ý bênh: “Thằng Tiến ốm, không uống được đâu.”. Lời qua tiếng lại, lằng nhằng một lúc nói thế nào cũng không được, cứ cò kéo dai ban anh ta kiên quyết không chịu buông tha tôi. Bằng kinh nghiệm “trận mạc” mấy chục năm nâng lên đặt xuống tôi biết tỏng ông nhà thơ này đã khướt khườn khượt nên mới hung hãn thế. Tôi cố gắng kiềm chế và vẫn một mực từ chối. Nhưng không ngờ anh ta buông một câu hết sức phũ phàng: “Không uống! Nhìn bản mặt kìa, ông giả vờ giỏi lắm, Trung ương mà kém thế à, không được, không được!”. Trời cao đất dày, thực tình cách xuất hiện của anh ta khiến tôi không mấy thiện cảm, thêm nữa lời giới thiệu về cái công ty gì gì đó mà Khoa là giám đốc khiến tôi càng khó chịu. Lại thêm một đại gia cậy tiền chơi thơ phú đây. Được, đã sàng sỗ đến mức ấy thì chơi. Tôi biết thừa chỉ vài ba chén nữa là ông đại gia này sẽ đổ kềnh đổ càng. Chút tự ái dâng lên khiến công lao chịu đựng từ đầu thành dã tràng, tôi sẵng giọng thách đố. Liền tù tì dăm chén, tôi tỉnh queo hả hê nhìn điệu bộ của một tửu đồ đã đến cữ cuối cùng, thân xác lảo đảo, lưỡi ríu, giọng khê. Khoa gần như đổ vật vào người tôi, tay quàng, tay quờ từ đỉnh đầu tôi xuống mặt: “Hay…hay lắm…tối nay tôi mời ông và anh Đỉnh ngủ…ngủ…”. Khốn khổ thân tôi, đã chay tịnh thì thoát, đằng này tự mình đâm đầu vào lọng. Đám bạn uống ào ào tấp chén, tôi có hơi men bèn hăng tiết nghe rần rật máu chuyển trong người bèn bất chấp uống như người chết khát. Ồn ã quăng quật tơi bời rồi thì bữa tiệc cũng tàn. Ngô Đăng Khoa mất hút từ lúc nào quên béng lời mời…ngủ. Tôi cũng chẳng hiểu lời mời ngủ ấy là thế nào. Đầu óc váng vất tôi lèo nhèo vài câu về vị khắc tinh không mấy cảm tình kia rồi cũng chết vật.

Sáng hôm sau, Ngô Đăng Khoa mò đến khách sạn tôi và Trung Trung Đỉnh ở từ sáng sớm. Một con người khác hẳn xuất hiện trước mặt tôi. Quần áo có phần chải chuốt hơn, giọng nói vẫn bỡn cợt nhưng nhỏ nhẹ. Anh xin lỗi vì tối qua say quá không còn biết trời đất gì nên không thu xếp được chỗ nghỉ cho chúng tôi. Trung Trung Đỉnh gạt đi nhưng Khoa một mực đòi thanh toán tiền nghỉ theo lời mời. Kế đó anh rủ chúng tôi đi nhậu lòng lợn tiết canh. Lại nhậu. Tôi từ chối nhưng anh nói chả mấy khi được gặp nhau. Các ông không biết tôi chứ thằng Khoa này xưa nay từ nghèo đến giầu lúc nào cũng vẫn là Khoa, chân thành, mộc mạc, hết mực vì bạn vì bè. Cứ xưng xưng như vậy hàng tràng. Thái độ của Khoa cùng với sự thân mật của bạn bè xứ Tuyên với anh khiến tôi dịu đi, vẫn là cảm giác dặt dè không mấy tin tưởng nhưng đã không còn khó chịu. Trong bữa ăn sáng ngắn ngủi, Khoa vẫn kịp ép mọi người uống hơn một chai cối ruợu…mật lợn. Lần đầu tiên tôi chứng kiến mọi người uống thứ rượu quái dị này. Vẫn là Khoa bông phèng về tác dụng của mật. Và tất nhiên như mọi nhà thơ khác, anh kịp đọc lấy vài bài thơ ruột của mình. Một thói quen không biết là đáng yêu hay đáng ghét của tất tật các nhà thơ.

Tôi gặp Ngô Đăng Khoa lần đầu như vậy. Anh có đưa tấm cạc với lời mời hôm nào đó đến công ty anh chơi. Lời mời có vẻ thành thật. Dù vậy tôi vẫn chỉ coi đó là sự xã giao. Tuy nhiên có một chi tiết khiến tôi sau đó thay đổi cách nhìn nhận về con người mang danh đại gia này. Anh tặng tôi tập thơ đánh máy đang chuẩn bị in. Một tập thơ hay đến không ngờ. Chuyện đó nói sau.

Quãng giữa năm hai lẻ sáu, tôi có ý định mang “Ma làng” ra chuyển nhưng cũng chưa biết chọn đạo diễn nào. Một hôm, nhân lúc rỗi rãi tào lao ở cơ quan, tôi đột nhiên cao hứng kể về tiểu thuyết “Ma làng” với đạo diễn Nguyễn Hữu Phần. Vị đạo diễn này trước đây từng làm đồng đạo diễn phim “Đất và người” rất khoái đề tài nông thôn dù là dân thành thị thứ thiệt trăm phần trăm. Anh Phần đã cao tuổi nhưng còn khoẻ và khá nhanh nhẹn, tác phong cũng như nhiệt tình, đám đạo diễn thanh niên còn mướt mới theo kịp. Nghe kể, vị đạo diễn có vẻ hứng khởi nhưng vẫn lạnh lùng đầy nghi vấn: “Sao tôi không nghe gì về tiểu thuyết này. Hay thì nó phải nổi tiếng chứ. Thôi được, ông cứ đưa đây ngó thử. Để xem thế nào.”. Điện ảnh, truyền hình là một nghề tuy là sáng tạo tập thể nhưng vai trò đạo diễn ở bậc thứ nhất nên nói chung các đạo diễn ở ta luôn thấy mình quan trọng và không ít người tự dành cho mình cái quyền lệnh khệnh ít khi chịu ai. Không ngờ khi đọc xong “Ma làng” Nguyễn Hữu Phần khoái quá khen nức, khen nở. Ông bập vào ngay quyết định sẽ làm “Ma làng”. Hơn thế ông còn làm cái việc thổi bùng ngọn lửa đam mê vào các thành phần trong ê kíp của ông. Rất nhanh, từ quay phim, hoạ sĩ đến các thành phần khác đều tỏ ra thích thú. Tất nhiên tôi không bỏ lỡ dịp may này để thoả ấp ủ bấy nay. Cũng lạ, xưa nay chẳng hề có chuyện kịch bản chưa có nhưng mọi người đã hào hứng quyết tâm làm. Khỏi bàn, đoàn phim phi ngay lên Tuyên Quang. Gọi đoàn phim cho oách chứ thực ra ngoài hoạ sĩ, quay phim đi thị sát bối cảnh, đạo diễn và tôi còn có một nhiệm vụ nặng nề phải tìm được nơi ăn chốn ở cho cả đoàn mấy chục con người mới hòng bàn được đến chuyện làm phim. Nhân chuyện này cũng xin nói thêm, với kinh phí hiện cấp thì có tài thánh cũng không thể làm được phim ở nơi cách xa nhà hàng trăm cây số. Tất nhiên bây giờ đã có chủ trương xã hội hoá nên đoàn phim có thể trông đợi vào tài trợ nhưng chết nỗi “Ma làng” nội dung tái hiện lại cuộc sống nông thôn miền núi những năm 80 thì chịu chết không có một ai lại chịu mất chi phí khi chẳng trông đợi gì được vào việc cài cắm sản phẩm cũng như thương hiệu trong phim, dẫu chỉ là chai nước khoáng nhỏ nhoi nhất cũng không phù hợp. Bối cảnh Tuyên Quang tuyệt vời cho phim vì đây là vùng quê tác giả đề cập trong tiểu thuyết. Nhưng rồi niềm hứng khởi nhanh chóng chuyển thành thất vọng tràn trề. Bàn đi tính lại chán chê mê mỏi, mọi người quyết định bỏ cuộc, không thể có cách nào để phim thực hiện được ở Tuyên Quang. Lý do giản đơn thôi cũng chỉ là kinh phí, giá kể lo được ít phòng ngủ thì còn dám sân siu từ khoản nọ sang khoản kia để khả dĩ cầm cự được mấy tháng ở hiện trường. Khỏi nói tôi chán đến mức nào. Đúng lúc bi đát nhất chợt nhà văn Trịnh Thanh Phong vớt vát bằng sáng kiến hay là ta quay ở Hà Giang, có thể nhờ được một người bạn làm thơ. Ngô Đăng Khoa, vụt loé trong tôi cái con người thực lòng tôi không mấy khi nhớ đến dù đã đọc và rất thích thơ anh. Một cú điện thoại được tác giả tiểu thuyết “Ma làng” phóng đi, lập tức có sự hồi đáp. Ngô Đăng Khoa nhận lời giúp đoàn phim.

Khu suối khoáng nước nóng nằm trong khuôn viên công ty dịch vụ du lịch suối khoáng Thanh Hà (Vị Xuyên-Hà Giang) nơi Ngô Đăng Khoa dự kiến cho đoàn phim trú ngụ miễn phí trong suốt quá trình làm phim thực chất là một khu nghỉ đầy đủ tiện nghi như khách sạn. Không thể lý tưởng hơn cho một đoàn phim quen sống dã chiến. Chúng tôi mừng rỡ vì sự giúp đỡ bất ngờ đầy hào hiệp này. Thì ra Khoa từ lâu đã mê mẩn tiểu thuyết “Ma làng”. Anh rất mừng vì được góp công sức vào việc chuyển tiểu thuyết thành phim. Thậm chí Khoa còn vô tư đòi được giúp đoàn phim cả về bối cảnh và chi phí ăn uống nhưng đạo diễn Nguyễn Hữu Phần đã từ chối. Ông chỉ chấp nhận sự giúp đỡ về nơi nghỉ. Vậy là phim “Ma làng” được quyết định tại đại bản doanh của vị nhà thơ kiêm giám đốc công ty Thanh Hà dù lúc ấy mọi thứ vẫn nằm tròm trèm trong hơn trăm trang tiểu thuyết.

Đó là lần thứ hai tôi gặp Ngô Đăng Khoa. Cũng là lần vì vui sướng tôi phớt lờ bệnh tật, thả phanh uống cùng anh. Lý do tôi buông thả tự cho phép mình nâng ly uống để mừng…thắng lợi lúc đó còn nằm trong tưởng tượng. Chưa thể quên những cảm giác ban đầu về Khoa nhưng tôi đã ít nhiều nhận thấy ở con người anh những điều khác thường. Không chỉ vì sự giúp đỡ kia, cũng không chỉ là cách hành xử thường thấy cùng những giai thoại nhiều chiều về cuộc sống một đại gia xứ cao nguyên đá mà ở chính những bài thơ của anh. Những bài thơ mộc mạc, dân dã và chân thành đến kỳ lạ. Tiếc thay và cũng là điều không thể ngờ, thời gian chỉ chưa đầy một năm sau đó, số phận liên tiếp giáng vào Ngô Đăng Khoa những đòn chí tử.

II

Ngô Đăng Khoa sinh năm 1952 tại Thanh Hoá. Năm 1972 anh nhập ngũ vào chiến trường B. Lăn lộn qua mấy cuộc chiến, hết biên giới Tây nam đến biên giới phía Bắc, năm 1983 đang là cán bộ chỉ huy một tiểu đoàn công binh thuộc sư đoàn 314 anh đột ngột xin ra quân. Đã có một đời vợ dang dở ở quê (mất vì trọng bệnh), anh tái hôn với một thiếu nữ dân tộc Tày, chị Hoàng thị Chiên và lấy luôn Bắc Quang (Hà Giang) quê vợ làm quê hương thứ hai của mình. Tại đây chàng cựu quân nhân đã dấn mình lập nghiệp bằng con đường kinh doanh. Từng là lính thú thật tôi không hiểu được quyết định này của anh. Tôi cũng chưa bao giờ biết lý do việc ra quân, có thể cuộc tình với cô gái Tày lúc đó chỉ 17 tuổi khiến anh đã từ bỏ quân ngũ. Tôi đã nghe chị Chiên vợ anh kể về những ngày tháng gian khó này. Thật khó hình dung một đại gia thực sự sau này ban đầu lại khởi nghiệp bằng nghề buôn gà vịt. Từ gà vịt đi lên, 15 năm sau- năm 1999 Ngô Đăng Khoa chính thức thành lập công ty dịch vụ du lịch suối khoáng Thanh Hà (tên ghép của hai quê Thanh Hoá và Hà Giang) với một cơ ngơi bề thế bao gồm cả khu suối khoáng của tỉnh giao cho công ty quản lý. Đây thực sự là một điểm nghỉ ngơi, du lịch lý tưởng của Hà Giang. Các thành viên của đoàn phim đã rất lý thú với khu nghỉ này. Họ có thể yên tâm thoải mái với điều kiện nghỉ ngơi chưa bao giờ có được trong khi làm phim. Đạo diễn Nguyễn Hữu Phần là người kỹ tính ông có vẻ băn khoăn khi nhẩm tính con số Ngô Đăng Khoa trợ giúp nơi nghỉ. Một con số khổng lồ lên đến hàng trăm triệu khi đoàn phim quay ít nhất phải trong ba tháng với quân số mấy chục con người. Vẫn điệu cười hà hà thường nhật Ngô Đăng Khoa bảo: “Bác đừng lăn tăn làm gì. Em là dân kinh doanh tính toán nhanh lắm. Không có con số ấy đâu. Phòng ốc em có sẵn, nước suối khoáng nóng có sẵn, chỉ phải chi tiền điện thôi, thêm nữa là tiền củi nấu ăn, tiền nhân viên phục vụ. Tất tật chỉ vài chục triệu đồng.”. Nghe có lý, một cách tính tiền đầy tình cảm. Sau khi thoả thuận miệng như vậy, đạo diễn Nguyễn Hữu Phần bắt tay cùng tôi làm kịch bản. Một không khí khẩn trương bao trùm đoàn phim. Hoạ sĩ trần Hùng cùng quay phim Phạm Quang Minh những người đặc biệt yêu thích “Ma làng” hăm hở tác nghiệp. Họ chọn bối cảnh chính ở địa phận xã Việt Lâm, huyện Bắc Quang. Cũng là núi là rừng, cũng ruộng bậc thang, cũng những người dân gần giống trong tiểu thuyết.

Những ngày này dù rất bận bịu với công việc (Ngô Đăng Khoa còn kinh doanh nhận thầu công trình, đường sá…) nhưng anh tận tình giúp đoàn phim trong việc tìm bối cảnh, liên hệ với địa phương. Phải công nhận người dân Hà Giang thuần khiết hết lòng ủng hộ đoàn phim. Chính quyền từ xã Việt Lâm đến huyện Bắc Quang và cả các cơ quan trong tỉnh đều nhiệt tình giúp đỡ. Dẫu chỉ là tinh thần nhưng đó là điều đáng quý không dễ gì có được. Tôi khó lòng quên nổi một buổi giao lưu giữa đoàn phim( chỉ những thành phần chính đi chọn cảnh) với lãnh đạo xã Việt Lâm. Hôm ấy, chúng tôi được chiêu đãi một bữa thịt dê núi tại nhà sàn của một cán bộ xã. Cuộc rượu tưng bừng khiến tất cả nghiêng ngả. Tôi hầu như quên đi bệnh tật uống như thuở nào còn sung sức. Rượu ngon, bạn hiền, ca khúc Trọng Đài phổ thơ Ngô Đăng Khoa, do ca sĩ Mai Hoa hát vang lên da diết: “Anh chạm vào chiếc lá-Biết là thu qua rồi-Anh chạm vào ngọn gió-Biết là em xa xôi…Mưa thì quá vô tư-Nắng cứ vàng như lụa- Chỉ anh là lá úa-Chỉ anh là bão giông…” Có ca khúc này là do đạo diễn Nguyễn Hữu phần nhờ nhạc sĩ Trọng Đài làm nhạc phim ( sau này nhóm nhạc của Hồng Quang thay thế). Đã từng đi nhiều hầu như khắp đất nước nhưng tôi phải công nhận không dễ gì có những cuộc ruợu vui vẻ như vậy. Đạo diễn Nguyễn Hữu Phần là người không biết uống ruợu nhưng lần đầu tiên tôi chứng kiến anh uống như một “tửu đồ” chính hiệu. Cũng trăm phần trăm như ai. Kết quả vị đạo diễn này bất tỉnh nhân sự để rồi đến sáng hôm sau anh bảo tôi: “Bây giờ thì tôi biết vì sao các ông thích say sưa rồi. Mệt bỏ mẹ nhưng sướng.”. Anh nói thêm sướng là sướng ở cái tình của người uống rượu. Quá hay, có lẽ vị đạo diễn không ruợu kia chẳng thể hiểu được những kẻ như tôi dấn thân vào nghiệp ruợu đâu phải chỉ ham uống ham ăn. Uống ở đâu, nhậu với đồ gì không quan trọng bằng uống với ai, đó là chân lý của những người biết uống. Nhưng chính từ cái “sướng” đột xuất ấy, một quyết định quan trọng đã làm thay đổi bối cảnh phim “Ma làng”. Sự nhiệt tình của địa phương và bản thân Ngô Đăng Khoa đã khiến các thành viên đoàn phim ý thức nhiều hơn về trách nhiệm với “Ma làng” giờ đã được họ coi là máu thịt. Lúc này kịch bản đã hoàn tất chỉ còn đợi xong bối cảnh là bấm máy. Đầu tiên là sự ngãng ra của hoạ sĩ và quay phim. Họ bảo phim của đêm trước đổi mới nghĩa là nghèo đói, bối cảnh no đủ, rừng núi tươi tốt của Hà Giang thì làm sao tái hiện được thời kỳ đó, quay lên có mà giả khườn khượt ai xem. Kế đến là đạo diễn. Ông chợt nghĩ ra khó có thể điều động diễn viên được với xa cách địa lý mấy trăm cây thế này. Và cái lý này mới quan trọng. Có một chút tự ái, mình làm phim Nhà nước đàng hoàng có chế độ hẳn hoi sao lại phải nhong nhong nhờ vả khắp nơi mãi như vậy. Vả lại những người như Ngô Đăng Khoa quá tốt với đoàn phim mình sao có thể đành lòng lạm dụng. Chấp nhận khó khăn, khổ sở thiếu thốn, mọi người thống nhất đồng cam cộng khổ trở về “căn cứ địa phim trường” Lương Sơn (Hoà Bình). “Ma làng” đã nhanh chóng được bấm máy ngay sau đó. Và đó là một quyết định sáng suốt.

Ngô Đăng Khoa buồn thật sự về tin này. Anh về Hà Nội gặp tôi tỏ ý tiếc. Tôi thay mặt đoàn phim cảm ơn anh và nói rõ lý do. Cảm thông nhưng vẫn buồn. Sau này khi Ngô Đăng Khoa bị công an Hà Giang khởi tố bắt giam ngay sau khi “Ma làng” bấm máy được non nửa thời gian, tôi vẫn không hiểu vì sao đoàn phim lại có một quyết định may mắn đến thế. Vẫn biết là ai làm nấy chịu, cũng không rõ Khoa làm ăn thế nào mà lại có một kết cục bi đát như vậy nhưng chúng tôi vẫn không khỏi giật mình hú vía. Lòng tốt của anh suýt nữa đẩy chúng tôi vào một tình thế khó xử, thậm chí không tránh khỏi thảm hoạ vỡ bối cảnh. Dù gì thì vẫn phải cảm ơn anh. Ai cũng thương Khoa nhưng bất lực không thể làm gì.

Cái tin Ngô Đăng Khoa bị bắt đã gây chấn động trong bạn bè văn chương. Anh là hội viên văn học nghệ thuật của cả Hà Giang lẫn Tuyên Quang, đồng thời là Hội viên Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam. Với hai tập thơ “Hồn quê” và “Mưa nắng quê nhà” đã xuất bản, bằng chất lượng thực sự, tôi tin nếu không có kết cục kia chỉ một thời gian nữa, chắc chắn Ngô Đăng Khoa sẽ trở thành Hội viên Hội nhà văn Việt Nam như anh từng ao ước. Thật tiếc. Thơ Ngô Đăng Khoa nghiêng về đồng nội, thấm đẫm hồn đất tinh quê với những tứ thơ chân chất giản dị và những câu thơ mộc mạc chân thành:“Thơ tôi thơ của quê mùa-Cây sung góc ruộng, khế chua cuối vườn…”. Bài “Thầy tôi” của anh viết về người cha thân yêu cảm động đến rơi nước mắt dù đó chỉ là một câu chuyện đời thực kể bằng vần điệu. Nhà văn Phù Ninh từng phát biểu rất chí lý về Khoa: “Thằng đó doanh nghiệp có tiền nhưng thơ nó hay thật.”. Trịnh Thanh Phong kể lại lý do Ngô Đăng Khoa gia nhập Hội văn học nghệ thuật Tuyên Quang vì có tình cảm với Tuyên Quang và muốn có thơ in ở vùng quê hương Việt Bắc. Có lẽ Ngô Đăng Khoa là thế, làm doanh nghiệp như một thứ “phu nghiệp” còn với thơ có lẽ đấy mới là thứ anh theo đuổi suốt đời. Vợ anh, chị Chiên một lần ngậm ngùi nói với tôi sau khi anh đã mất: “Chỉ thơ là quan trọng với anh ấy thôi…”. Tôi nhìn đôi mắt ngầng ngậng nước của chị chợt hiểu rằng thơ là gánh nặng của đời anh và đó cũng là khởi nguyên bi kịch. Khi chuẩn bị viết bài này tôi đã tìm chị để tìm hiểu thêm về đời sống vợ chồng anh. Người đàn bà giờ thay anh điều hành công ty và gia đình với ba đứa con đã trưởng thành, đầy mệt mỏi không nói gì nhiều. Chị không muốn nói nhưng lại nói ra điều ít người biết: “Thực ra dạo chuẩn bị làm phim “Ma làng” vợ chồng em giận nhau. Nếu không có vụ anh ấy bị bắt thì bọn em đã li dị.”. Tôi không thể hỏi gì thêm. Chẳng cần hỏi, tôi cũng mang máng đoán ra sự thể. Đó là bi kịch của người làm thơ có tiền. Nhưng thôi giờ anh đã đi xa thật xa nói lại điều ấy chẳng ích gì.

Bẵng một dạo sau khi Khoa bị bắt, vài tháng sau tôi được tin anh đã được tự do bèn gọi điện hỏi thăm. Không còn hà hà cười như trước, giọng anh buồn bã, mệt mỏi. Khoa hứa sẽ về Hà Nội chơi. Lại bẵng một dạo rồi nghe nói Khoa bị ung thư phổi hay vòm họng gì đấy. Vài cuộc điện thoại thăm hỏi rồi bỗng nhiên một lần anh gọi điện cho tôi bảo lên gấp anh muốn gặp. Giọng Khoa yếu ớt khiến tôi phát hoảng. Tôi cùng Trung Trung Đỉnh vội bổ lên cùng với Trịnh Thanh Phong. Không thể ngờ đó lại là những ngày cuối cùng của Khoa. Anh đã suy sụp đến giới hạn cuối cùng. Khoa không còn nằm được nữa phải ngồi thu lu ôm lấy một góc chân giường vì khối u đã di căn phát trướng ổ bụng. Anh hối thúc vợ con làm cơm và ép lũ chúng tôi phải ăn cùng với anh bữa cơm chia tay. Tôi đã từng tiễn biệt bạn bè, người thân với nhiều cái chết khác nhau nhưng chia tay kiểu này thì thật sự khó chịu đựng nổi. Mệt nhưng anh nói có bạn nên rất vui. Hình như Khoa cố gượng gồng để ăn hết đến hai lưng cơm. Anh nói với tôi: “Tiếc là tôi với ông gặp nhau quá muộn, chỉ dăm lần. Nếu sớm hơn thì chúng ta có thể giúp nhau được nhiều…”. Giúp được gì hả anh? Tôi cũng chỉ là môt kẻ rong chơi vô tích sự gần chót đời cũng đã làm được việc gì ra hồn đâu. Lúc này bệnh gan của tôi đang nặng nhưng tôi không thể không uống. Tôi rót rượu và đặt lên tay anh chiếc chén không cụng tượng trưng, chợt nhớ đến lần đầu gặp nhau mà lòng xa xót. Tôi uống với lời nhủ thầm chén này tôi uống hộ anh. Chén này, chén nữa…ruợu vào đến đâu thành nước mắt tràn ra đến đấy. Rồi Khoa bảo, tôi gọi ông lên để tặng ông một món quà. Đó là bình rượu quý ngâm mật gấu nguyên chiếc và gần chục chiếc tay gấu đặc sánh. Bình rượu to vật cỡ dăm chục lít. Ai có thể nỡ lấy đi lúc ấy bình rượu kỷ vật. Và tôi cũng có còn uống được đâu mà lấy. Tôi bảo Khoa, bình ruợu này cứ để ở đây dùng chung. Anh bảo vợ niêm phong lại ghi tên Đỉnh, Khoa, Tiến. Ai đi trước thì hai người kia chia nhau, tôi ngờ rằng anh và anh Đỉnh sẽ được uống phần của tôi. Khoa thoáng cười. Nụ cười chua chát của một người biết mệnh mình. Sau này tôi nghe nói một bạn văn nào đó đã xin và mang đi bình rượu ấy lúc Khoa còn đang sống. Ruợu ơi là rượu sao buồn thế, chào mi.

Người bệnh ung thư tỉnh táo đến lúc chết. Anh đòi được chôn mình trên lưng chừng núi sau nhà. Nghe kể trước khi chết anh đòi mang ra từ Thanh Hoá một số món quà quê chỉ nhìn chứ không ăn. Và nữa, anh đòi nhòm bằng được chiếc quan tài của mình. Thấy rồi thì lặng lẽ gật đầu. Một cái chết được biết trước thật đáng sợ. Một kết cục được nhìn thấy, có lẽ thế còn đáng sợ hơn. Tôi cứ vân vi mãi về chuyện anh bị bắt. Con người thơ trong anh hẳn sẽ vô cùng phẫn nộ với con người đại gia được cóp lại từ những chặng đường kinh doanh của anh. Liệu có thể dung hoà hai con người ấy. Chỉ có anh mới hiểu. Nhưng dù có thế nào thì anh vẫn là Ngô Đăng Khoa, một người bạn mới quen nhưng để lại nhiều kỷ niệm. Lại nhớ cái hôm anh dẫn chúng tôi đi liên hệ tuyển diễn viên ở Hà Giang. Giữa buổi chợt có cú điện thoại báo có con gấu ốm bỏ ăn. Anh quyết định rất nhanh, bỏ ăn thì thịt. Con gấu hơn tạ bị xẻ thịt. Khoa giữ lại chiếc mật gấu còn thì nấu nướng đãi đằng và mang cho bằng hết. Chiếc mật gấu anh giữ trong tủ lạnh, cứ mỗi ngày lại chọc ngoáy xi ranh rút ra một ít pha ruợu uống. Đến lúc hết chiếc mật gấu thì bị bắt. Lại là sự sắp xếp tiền định chăng?

Cái hôm Ngô Đăng Khoa mất, tôi có từ Hà Nội lên viếng anh nhưng không thể đưa Khoa lên núi vì phải vội về. Ít ỏi nhưng có lẽ thế là đủ. Đạo diễn Nguyễn Hữu Phần không đi được gọi tôi gửi gắm đồ viếng. Tôi đặt một vòng hoa thay mặt đoàn phim “Ma làng” viếng anh. Đoàn phim “Ma làng” kính viếng! Không còn từ ngữ nào hơn, cũng không có cách gì khả dĩ hơn để biểu thị lòng thương tiếc của những người làm phim với anh. Giờ thì “Ma làng” đã phát sóng xong và anh cũng đã phiêu diêu ở đâu đó thật xa. Vâng! Đó có thể là số phận. Cũng có thể chỉ là những sắp đặt vô tình. Không quan trọng, bởi vì chúng ta đã được sống đầy đủ cuộc sống của chính mình. Dẫu đó là hạnh phúc hay bất hạnh. Và những dòng này xin được chắt lại thành một ly rượu mời anh. Một thi sĩ bạc mệnh!

Phạm Ngọc Tiến( Rút từ tập “Chân dung của Ruợu”)

Advertisements

Entry filed under: Chân dung.

Ngọn gió ngàn đã lặng

24 phản hồi Add your own

  • 1. van  |  Tháng Tám 5, 2009 lúc 10:29 chiều

    Buồn quá! Lại một số phận.

    Mà sao mọi người uống rượu kinh thế nhỉ! Tập Chân dung của rượu chưa xuất bản hả anh Tiến?

    Phản hồi
  • 2. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 5, 2009 lúc 11:11 chiều

    Tui có cai được ruợu đâu mà xuất bản. Khe…khe…

    Phản hồi
  • 3. MuaThuHaNoi  |  Tháng Mười 3, 2009 lúc 11:48 sáng

    Chân dung này anh viết thật là xúc động. Hiểu thêm về NĐK mới biết quyết tâm cai rượu của anh là hoàn toàn sáng suốt và kịp thời…

    “thực tình cách xuất hiện của anh ta khiến tôi không mấy thiện cảm, thêm nữa lời giới thiệu về cái công ty gì gì đó mà Khoa là giám đốc khiến tôi càng khó chịu. Lại thêm một đại gia cậy tiền chơi thơ phú đây.”

    Em đọc và được biết có ít nhất 2 chân dung những người bạn rượu của anh đều có cảm giác khó chịu trong lần gặp đầu tiên nhẩy….

    Cũng mừng vì anh NĐK trả xong kiếp người này, đã trả hết nợ đời. Chứ nếu sống thêm nữa , rồi lo li hôn, chia tài sản, vừa mất mát về tinh thần, và vật chất, lại thêm bệnh tật nữa …. Người thường tồn tại được trong hoàn cảnh này đã khó, người “yêu thơ hơn kinh doanh” không biết có chịu nổi không ?

    Phản hồi
    • 4. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Mười 3, 2009 lúc 12:23 chiều

      Cai rưọu là sáng suốt nhưng chưa kịp thời đâu, đến giờ tui vẫn lai rai uống. Khó lắm vì đời tui có phải ít gặp những người như NĐK đâu. Khổ thế.
      MTHN đọc tinh thật đấy, bạn thân thiết nhất của tui đa phần đều là những người khó chịu ban đầu và từng va chạm không nhỏ. Âu cũng là số mệnh.
      NĐK chắc sẽ cảm ơn MTHN vì phát hiện này. Đúng là anh đã trả xong kiếp người, trả hết nợ đời. Sau này gần như Khoa được minh oan, giải quyết hết mọi khúc mắc. Còn chuyện nữa kể ở đây e bất tiện, tui chỉ nói sơ sơ. Có một cô bạn gái rất trẻ của Khoa sau khi đọc bài này đã tìm gặp tôi để có ý thanh minh cho NĐK. Tui đã rất buồn vì chuyện đó và càng thương anh hơn.
      Đọc cái còm này của MTHN tui thấy nhớ Hà Giang quá. Nhớ Ngô Đăng Khoa và chạnh nghĩ bao giờ thì đến lượt mình đây.

      Phản hồi
  • 5. Meogia  |  Tháng Mười 3, 2009 lúc 8:58 chiều

    Anh PNT oi, ai roi cung den luot ca thoi. Tham chi co the co nguoi chen ngang, khong xep hang, hehehe.

    MG moi doc cuon “O tro tran gian” cua co Nguyen Hong Cong thay thuong va cam phuc co ay qua. Cung mot kiep nguoi.

    Phản hồi
  • 6. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Mười 3, 2009 lúc 9:23 chiều

    Uh, đó là một trường hợp thương tâm và cũng can đảm hiếm có. Tiếc rằng những người như vậy lại không được số phận ưu ái.
    Còn cái sự đến lượt kia thì nước non gì. Nó nhẹ như lông hồng thôi. Tui được hưởng cảm giác của cái chết vài lần rồi. Cũng thường thôi. Khe..khe…

    Phản hồi
  • 7. Meogia  |  Tháng Mười 3, 2009 lúc 9:51 chiều

    Em dang co “Thoi cua thanh than” cua Hoang Ngoc Tuong, chac PNT doc roi, hay qua phai khong?

    Phản hồi
  • 8. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Mười 3, 2009 lúc 9:58 chiều

    Thời của thánh thần- Hoàng Minh Tường. Cuốn này được. Meo gia tàn sát nhiều sách thế?

    Phản hồi
  • 9. Meogia  |  Tháng Mười 3, 2009 lúc 10:07 chiều

    Nho doc nhieu moi biet PNT chu! It nhat trong nha em co 2 cuon cua anh. hehehe, khoe 1 ty!

    Phản hồi
    • 10. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Mười 3, 2009 lúc 10:52 chiều

      Nhưng cũng vừa vừa thôi kẻo ngộ sách thì ốm đấy. Khe…khe…

      Phản hồi
  • 11. Meogia  |  Tháng Mười 3, 2009 lúc 10:21 chiều

    Trong nhan vat NGuyen Ky Vy, co bong dang Phung Quan, Tran Dan va dac biet la Tuan Nguyen. Chi tiet cuon so cua Nguyen Ky Vy bi roi vao tay ke co hoi, chac trong moi nha van nha tho thoi ay deu co mot “cuon so ghi doi” nao do, khi roi vao tay ke khac se nguy hai khon luong!

    Phản hồi
  • 12. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Mười 3, 2009 lúc 10:54 chiều

    Viết ko có dấu khó luận quá Meo gia ơi.

    Phản hồi
    • 13. meogia  |  Tháng Mười 5, 2009 lúc 9:18 sáng

      Em đang tìm cuốn “Nước mắt một thời” của Nguyễn Khoa Đăng, nghe nói đã xuất bản trong tháng 9 nhưng chưa thấy ở các nhà sách.

      Phản hồi
  • 15. Giao trọc Balan  |  Tháng Mười 5, 2009 lúc 3:50 sáng

    Một kỷ niệm chắt chiu trong rượu
    Một thoáng buồn, vui với thế gian
    Một đau đớn vì ĐỜI hờn tủi
    Ngô Trọng Khoa vẫn sống đấy thôi.

    Phản hồi
  • 17. Giao trọc Balan  |  Tháng Mười 5, 2009 lúc 3:52 sáng

    Xin lỗi vì nhầm : Ngô Đăng Khoa vẫn sống đấy thôi

    Phản hồi
    • 18. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Mười 5, 2009 lúc 8:26 sáng

      Cái này thì đúng. Ngô Đăng Khoa vẫn quanh quất đâu đây. Ai nghĩ sống thì anh ấy vẫn sống. Sống chết là cái lẽ giản dị vậy đó.

      Phản hồi
  • 19. mua thu ha noi  |  Tháng Mười 5, 2009 lúc 7:02 sáng

    “Ngô Đăng Khoa vẫn sống đấy thôi”??? Cái này chắc là VĂN nói… hú hồn!!!

    Phản hồi
  • 21. meogia  |  Tháng Mười 5, 2009 lúc 1:19 chiều

    Trịnh Thanh Phong mới có cuốn “đất cánh đồng Chum”, em mới đọc. Không ấn tượng gì.

    Phản hồi
  • 22. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Mười 5, 2009 lúc 2:10 chiều

    Cô này gớm thật. Cuốn đó ra năm trước. Ông này sắp có cuốn mới độ cuối năm ra.

    Phản hồi
  • 23. meogia  |  Tháng Mười 5, 2009 lúc 2:52 chiều

    Em mới thấy nó ở hiệu sách thôi, hóa ra đã có từ năm ngoái! Tại chợt nhớ là bác có điểm danh ông này trong blog mới đọc thử ấy chứ. Bác có công nhận là bác Bùi Bình Thi vẫn là chuyên gia viết về “nước nào là nước Lào” không? Hồi nhỏ em có đọc “ký sự Xiêng Khoảng” với lại cái gì như “Đường về cánh đồng Chum” của bác Bùi Bình Thi.

    Phản hồi
  • 24. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Mười 5, 2009 lúc 3:00 chiều

    Bùi Bình Thi hay viết về chiến tranh ở Việt- Lào. Tác phẩm cũng nhiều. Có con trai là Bùi Thạc Chuyên, đạo diễn phim “chơi vơi” đang đình đám đấy.

    Phản hồi

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Tháng Bảy 2009
H B T N S B C
    Th8 »
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728293031  

CHÀO KHÁCH

free counters

%d bloggers like this: