Kẻ ăn mày dĩ vãng ( Phần 1)

Tháng Bảy 23, 2009 at 5:25 chiều 2 comments

Nhà văn Chu Lai sinh năm 1946 tại Hưng Yên. Hội viên Hội nhà văn Việt Nam từ 1980. Ông thuộc lớp nhà văn gắn bó cả đời với binh nghiệp. Các sáng tác của ông từ truyện ngắn, tiểu thuyết đến kịch bản sân khấu và điện ảnh truyền hình đều mang hình bóng cuộc chiến tranh giữ nước. Tác phẩm nổi trội nhất của ông là tiểu thuyết “Ăn mày dĩ vãng” ( Giải A Hội nhà văn Việt Nam năm 1994 về đề tài văn học chiến tranh). Có thể nói Chu Lai là một nhà văn có được thành tựu cả trong đời sống lẫn sự nghiệp từ chính những trải nghiệm quân ngũ của mình. Không có cách gọi nào khác, Chu Lai chính là một kẻ ăn mày dĩ vãng!


IMG_5421a

Kẻ ăn mày dĩ vãng Chu Lai

Chu Lai là một danh từ riêng rất nổi tiếng. Đó là một địa danh lịch sử của chiến trường Quảng Đà năm xưa và khu chế xuất công nghiệp lớn hiện nay. Mặc nhiên cái bút danh và tên gọi của nhà văn Chu Lai có được một sự cộng hưởng khá thuận lợi. Tôi dám đánh cược rằng có nhiều người biết tên tuổi nhà văn Chu Lai nhưng lại chưa hề đọc một trang văn nào của ông. Văn học xứ ta có những ngoại biệt vô lý như vậy. Nói không phóng đại, vô khối nhà văn ( trong đó có tôi) in hàng chục cuốn sách, viết hàng ngàn trang kịch bản, độc giả đọc nhầu văn mình, khán giả xem nát phim mình nhưng khi nhắc đến tên họ vẫn bị thiên hạ nhầm lẫn như thường. Trên đời cái danh là quan trọng, nhất là với anh nhà văn, danh đương nhiên là hàng đầu, mọi thứ lợi lộc chẳng thể thấm tháp, bằng chứng là khối anh, khối chị vác cả tiền tấn để mua danh, kế đó mới đến dùng danh, bán danh để cầu lợi. Lan man quá nhưng đúng là vậy, chết nỗi với đám văn veo chữ nghĩa thì cái tên lại chính là đẳng cấp thứ thiệt của cái danh. Thế nên không ít người ghen tị với Chu Lai. Dường như ý thức quá lâu, quá đủ về điều này, ông thường cười một cách đầy hào sảng: “Đời có giá cả đấy…”.

Chu Lai rất hay dùng cặp từ: “Giá-Trả giá”. Ngay cả cái với cái tên của mình cũng vậy dù khởi đầu chỉ là sự tình cờ. Chẳng hiểu cụ thân sinh ra ông, nhà văn Học Phi ngẫu hứng thế nào lại đặt tên con trai trùng tên với vị thủ tướng lừng danh trong lịch sử cách mạng Trung Quốc: Chu Ân Lai. Ngẫu nhiên thôi, Chu Lai sinh năm 46 thì mãi năm 49 cách mạng Trung quốc mới thành công để vị thủ tướng kia ra mắt bàn dân thiên hạ. Vì cái sự trùng tên danh nhân mà Chu Lai khốn khổ suốt một thời gian đi học, bạn bè không bỏ lỡ một cơ hội nào để đàm tiếu, chế giễu. Lớn lên, Chu Lai bỏ phắt cái đệm “Ân” phiền toái rồi gọi chệch thành Chu Văn Lai. Vẫn không ổn vì nó cứ ngang ngang, xương xương thế nào ấy, rút cục ông bỏ nốt đệm cho gọn. Khi đã thành danh, cái tên Chu Lai trùng vẫn hoàn trùng nhưng lần này thì khác, ông khẳng định chắc nịch đúng như bản tính của mình. Đại loại phải trả giá đấy, không tự nhiên mà có đâu, mỗi ngày múc óc mình ăn mới ra được văn mới thành được cái tên, không ngon ăn một chút nào.

Có lẽ là vậy, Chu Lai có một danh sách tác phẩm đồ sộ. Không nhiều như những nhà thơ, nhà văn “tốp 100” tức là cho in ấn hàng trăm đầu sách, tác phẩm của Chu Lai dẫu chỉ đếm quanh, đếm quẩn đủ đốt ngón trên hai bàn tay nhưng nó đồ sộ ở sự xuất hiện liên tục trên giá hiệu sách, ở tiếng vang trong dư luận, ở tia ra phát hành ( chưa kể vô khối kịch bản sân khấu, điện ảnh truyền hình đã được dàn dựng, sản xuất). Kiểm chứng điều này hơi bị dễ, có rất ít nhà văn sống được bằng nghề và Chu Lai là một trong số rất ít ấy. Không chỉ sống được, ông nhà văn lính này sống dư dả đàng hoàng, chẳng dám nói là giầu có tột đỉnh nhưng nhà văn gì mà nhà lầu chót vót, xe hơi phóng vèo vèo đích thị là lớp người nói theo ngôn ngữ bát nháo “thị trường” của thời buổi hiện nay thì đó là những “đại gia” đời mới. Viết văn mà được như vậy âu cũng là điều sung sướng. Tất nhiên chẳng phải dễ, có vô khối nguồn căn nguyên cớ ở chuyện này, việc sẽ bàn sau.

Tôi thuộc lớp người viết văn xuất hiện ở thời kỳ đổi mới của những năm cuối thập kỷ 80. Lúc bấy giờ lớp nhà văn như Chu Lai đã lừng danh trên văn đàn. Như nhiều tác giả tò te khác, điểm đến ban đầu của tôi là Tạp chí Văn nghệ quân đội. Nhìn những Trung Trung Đỉnh, Khắc Trường, Khuất Quang Thuỵ, Nguyễn Trí Huân…xúng xính quân hàm quân hiệu vạch nọ, sao kia mà hãi. Đã qua lính, lại là thứ lính phọt phẹt lúc ra quân cấp bậc chỉ là anh hạ sĩ bét dem nên khỏi phải tả niềm kinh hãi cũng như sự nể vì của tôi trước những nhà văn sĩ quan sáng láng kia. Mấy ông nhà văn vừa kể dù sao còn có cảm giác dễ gần vì sự “dễ” trong tác phong, trong trang phục, trong vẻ mặt nông dân dầu dãi, trong cách nói của họ. Chu Lai thì khác. Một cảm giác chờn vờn luôn bao phủ tôi khi tiếp kiến ông. Mái đầu xoăn tít, chỏm đánh vồng lên điệu đàng, khuôn mặt từ da dẻ đến mắt mũi, râu ria hình như có được tỉa tót nên đỏm đáng một cách đáng ngờ. Nom Chu Lai chả giống gì một anh lính đặc công từng vào sinh ra tử ngót chục năm trời ở chiến trường rừng Sác. Nếu chỉ bằng ngoại hình, nhất là cặp mắt ướt rượt luôn đong đưa biết nói thì Chu Lai-trong mắt tôi-đích thị là một gã trai lơ không hơn không kém. Bấy giờ tôi tự nhủ, cái gã này đàn bà con gái mà ở gần thì cứ gọi là chết như ngả rạ. Tóm lại, Chu Lai xuất hiện trước tôi tràn đầy nỗi nghi ngại. Ngoại trừ giọng nói băm bổ lúc nào cũng vồng lên như sấm như sét, cách nói thẳng băng chả né tránh kiêng kị điều gì, hoàn toàn ngược với ngoại hình tài tử thì có lẽ loại đàn ông cục mịch thô kệch như tôi vía cũng chẳng dám lại gần.

Sau này thì tôi biết Chu Lai từng là lính văn công, diễn viên hẳn hoi, thảo nào nom ông giống một nghệ sĩ biểu diễn hơn là một nhà văn lính. Bây giờ tuổi đã ngoài 60 nhưng Chu Lai vẫn trẻ trung dẫu cặp mắt ướt rượt dạo nào đã ánh nét mờ đục của thời gian thì ông vẫn cứ phong độ như thường, vẻ tài tử trai lơ vẫn không hề thay đổi. Chu Lai khởi nghiệp lính bằng suất diễn viên ở đoàn kịch Tổng cục chính trị. Được một dạo ông chán, có lẽ những tố chất nhà văn đang ươm nhú trong tâm hồn đã thôi thúc ông bỏ nghề diễn để nằng nặc xin được làm lính chiến. Đây là một quyết định đúng đắn. Thử tưởng tượng nếu không có ngót nghét chục năm cầm súng trực tiếp ở vùng ven Sài Gòn thì làm gì có nhà văn Chu Lai với những tiểu thuyết máu lửa, lật giở trang nào cũng sặc mùi khói súng. Và nữa, tôi chỉ thấy diễn viên trở thành đạo diễn, nhà quản lý hoặc kinh doanh chứ chưa thấy diễn viên nào trở thành nhà văn cả. Quãng đời mười năm lính chiến kia hơn cả nỗi ám ảnh đã trở thành một phần quan trọng thường trực chi phối toàn bộ cuộc sống của ông. Không câu chuyện nào, ở bất cứ chỗ nào, vào một thời điểm nào, ông lại không nhắc đến nó. Nhắc nhiều đến nỗi như thể chỉ có một mình Chu Lai đánh trận. Cái thằng tôi cũng vinh hạnh được nghe ông kể nhiều về sự ác liệt chiến trường đến độ đâm ra nghi ngờ cả bản thân mình vì dám vân vi tính xác thực chuyện đánh trận của ông. Nghe Chu Lai phát biểu trong hội nghị, trên phương tiện truyền thông về cái chết, về những lần có ý muốn tự thương vì quá gian khổ, ác liệt tôi thật sự hoang mang. Tôi chẳng nói làm gì, lính B2 thật nhưng chỉ là loại lính ăn váng vào sau lúc chiến tranh sắp kết thúc, lại là lính kiểng cao xạ nhưng còn khối người khác chiến trường nào cũng trải, đánh đấm ra trò, mặt xanh nanh vàng vì đói vì sốt, người nhằng nhịt sẹo vì đạn vì bom nhưng tịnh chả ai kể được như Chu Lai. Quanh cái chuyện lính đặc công của ông đã có khối giai thoại vui về chuyện võ nghệ. Dạo còn trại viết văn quân đội ở Vân Hồ (Hà Nội) cứ hứng lên là Chu Lai quắp nhà văn Thái Vượng, Thái Bá Lợi ( tinh những người nhỏ con, cân nhẹ) trèo thoăn thoắt lên chạc cây, mái nhà. Võ công đến mức ấy thật ra trò. Thì nghe thế biết thế nhưng chính tai tôi lại nghe nhà văn Khuất Quang Thuỵ vốn là lính trinh sát bộ binh kể về chuyện họ thách nhau tỉ thí. Một đặc công, một trinh sát vừa giáp nhau thì Chu Lai đã bị ngã lăn quay. Lồm cồm bò dậy ông lính đặc công bảo vừa rồi tôi trượt chân, làm lại. Tiếp tục, lần này thì Chu Lai bị văng ra đến cả mét. Đáng nói là Khuất Quang Thuỵ chỉ được huấn luyện trinh sát có 6 tháng không bao giờ dám nhận mình biết võ vẽ. Không giấu được tò mò có lần tôi hỏi Chu Lai thực hư chuyện đó ra sao. Ông cười khoái trá bảo thằng Thuỵ nó nói phét đấy, anh có bị đánh ngã nhưng là thằng Đỉnh( nhà văn Trung Trung Đỉnh) nó bất ngờ húc mạnh đầu vào bụng mình thì có đến võ giời cũng ngã. Nói cho vui thế thôi chứ làm sao lại phải nghi ngờ những chuyện đó. Nội ngần ấy trang sách chiến trận đủ biết Chu Lai từng trải trận mạc thế nào. Và chiến tranh có lẽ đã bù lại cho những năm tháng tuổi trẻ gian khổ của ông quá nhiều thứ. Tôi đồ rằng Chu Lai cũng chỉ là số rất ít người lấy được lãi từ chiến trận.

Bàn chuyện lỗ lãi thật không phải nhưng như trên đã nói Chu Lai là nhà văn hiếm hoi được coi là “đại gia”. Dễ có mấy người “vượng” cả công danh lẫn vật chất đời sống. Nhưng có cái lãi này thì chính Chu Lai là người trong cuộc phải thừa nhận và ông luôn tự hào về điều đó. Đó là cái lãi thuộc về tình duyên. Nhà văn Vũ Thị Hồng, một hoa khôi của trường Tổng hợp cũng là một nhà văn khoác áo lính cả cuộc đời. Dạo đó sau giải phóng được hơn năm, cánh nhà văn quân đội 18 người được triệu tập về trại viết Quân khu 5 chỉ có mỗi Vũ Thị Hồng là nữ. Chu Lai viết tiểu thuyết “Nắng đồng bằng” ở trại viết đó. Lúc này là giai đoạn ông đang “đầu mày cuối mắt” với nhà văn nữ hoa khôi. Đêm nào Chu lai cũng dụng võ đặc công để trèo tường leo cửa vào phòng trình diện người yêu biên tập giúp một chương tiểu thuyết vừa viết trong ngày. Tình yêu khiến cho chàng trai đa tình thăng hoa ngày nào cũng quật ngã cả vài chục trang giấy đặc chữ. Chu Lai hồn nhiên bảo cứ hùng hục viết để mong đêm đến được hội ngộ với nàng ( không có bản thảo thì làm sao nặn ra cớ trèo tường vượt cửa nhờ biên tập giúp). Cũng có nhiều phiền toái về chuyện đặc công đột nhập này nhưng kết quả khá mỹ mãn và công bằng. Tiểu thuyết “Nắng đồng bằng” được in hai năm sau đó và tái bản liên tục đến tận bây giờ. Còn nhà biên tập có một không hai kia đã 30 năm nay kề vai sát cánh cùng ông trong “cuộc chiến chồng vợ”. Thật sự đó là một cuộc chiến đúng như thú nhận của Chu Lai: “Tất nhiên 30 năm ấy là 30 lần trục trặc. Nhưng vì cái mẫu số chung đi ra từ cánh rừng trận mạc nên chúng tôi đã bỏ qua cho nhau hết. Cái tạng tôi nó thế, cả nể nhưng cực đoan, yêu ai là yêu cả đời, ghét ai thì ghét truyền kiếp.”.

Thật hiếm có ai cứ xơi xơi kể chuyện mình như Chu Lai. Kể hết, chuyện viết lách, chuyện kiếm tiền, chuyện vợ, chuyện con, không có chuyện gì ông giấu được. Có một lần đã khá lâu vợ chồng ông xích mích. Vợ ông đưa con về nhà ngoại, được ít hôm quay lại lấy đồ đạc quần áo để đi hẳn. Lúc đó kinh tế đã khá lên chút đỉnh sau khi đất nước vượt qua được thời bao cấp kinh hoàng. Chu Lai thẫn thờ nhìn vợ, ông hiểu rằng đó là thời khắc quyết định của “cuộc chiến”. Đầy xúc cảm và đau đớn, Chu Lai bảo vợ, chúng ta đã vượt qua thời kỳ cái sống và cái chết kề cận, vượt qua được cái đói và cái khổ, giờ đã khá lên có cái ăn cái để sao lại nỡ vợ chồng chia lìa. Cả hai ôm lấy nhau bật khóc. Và họ không bao giờ có thể rời nhau ra được nữa. Tôi cho rằng “cuộc chiến chồng vợ” của Chu Lai đã có một cái kết hậu hĩnh từ chính thời điểm ấy.

Cái đận này Chu Lai kể đi kể lại nhiều lần trên cả mặt báo in lẫn truyền hình rồi trực tuyến internet, chưa kể trong các trận đồ trà tửu bạn bè. Ông kể hào hứng như kể về một trận đánh trong rừng Sác dạo nào, như kể về một cái gì đấy rất chung chứ không phải tình cảm riêng tư. Ai không hiểu, không tin Chu Lai chắc sẽ khó cảm thông.

Hôm rồi đến nhà ông ở số nhà 23B phố nhà binh Lý Nam Đế (Hà Nội) tôi được ông tiết lộ một bí mật thuộc về vĩ thanh cuộc chiến chồng vợ của ông. Chu Lai có một con trai duy nhất đang là phóng viên báo Quân đội nhân dân mới lấy vợ được gần năm. Giọng ông sung sướng tột đỉnh. Tất nhiên vẫn vống lên như thường lệ: “Tháng sau là tôi có cháu đích tôn. Siêu âm rồi, con trai!”.

Chu Lai là vậy, không thể khác!

(còn nữa)

Advertisements

Entry filed under: Chân dung.

Ngọn gió ngàn đã lặng Kẻ ăn mày dĩ vãng ( Phần 2)

2 phản hồi Add your own

  • 1. Hà Tĩnh  |  Tháng Một 23, 2010 lúc 7:46 chiều

    Nhắc nhiều đến nỗi như thể chỉ có một mình Chu Lai đánh trận. Cái thằng tôi cũng vinh hạnh được nghe ông kể nhiều về sự ác liệt chiến trường đến độ đâm ra nghi ngờ cả bản thân mình vì dám vân vi tính xác thực chuyện đánh trận của ông. Nghe Chu Lai phát biểu trong hội nghị, trên phương tiện truyền thông về cái chết, về những lần có ý muốn tự thương vì quá gian khổ, ác liệt tôi thật sự hoang mang. Tôi chẳng nói làm gì, lính B2 thật nhưng chỉ là loại lính ăn váng vào sau lúc chiến tranh sắp kết thúc, lại là lính kiểng cao xạ nhưng còn khối người khác chiến trường nào cũng trải, đánh đấm ra trò, mặt xanh nanh vàng vì đói vì sốt, người nhằng nhịt sẹo vì đạn vì bom nhưng tịnh chả ai kể được như Chu Lai. ..
    ———————–
    đây là ẩn ý” Ăn mày dĩ vãng” theo nghĩa bóng phải không nhẻ?

    Phản hồi
    • 2. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Một 23, 2010 lúc 7:56 chiều

      Không phải. Chỉ là mấy lời trêu chọc bậc đàn anh cho nó hoạt thôi. Ông này hay vống lên chuyện trận mạc, sống chết. Cũng là một cá tính.

      Phản hồi

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Tháng Bảy 2009
H B T N S B C
    Th8 »
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728293031  

CHÀO KHÁCH

free counters

%d bloggers like this: