Ngọn gió ngàn đã lặng

Tháng Bảy 23, 2009 at 5:21 chiều 2 comments

Ngọn gió của đại ngàn Trường sơn đã lặng lại, ngừng thổi. Còn có thể là gì khác được nữa-Phạm Tiến Duật- ông chính là ngọn gió ấy, ngọn gió thi ca của Trường sơn máu lửa, của những cánh rừng, ngọn núi, dòng sông, lạch suối, của cây lá tươi xanh, của bầu trời, ký ức trùng trùng điệp điệp trong muôn nẻo ước vọng trẻ trai của những con người cầm súng trong năm tháng chiến tranh. Ngọn gió Phạm Tiến Duật đã rời bỏ đại ngàn để lạc vào một cõi khác. Không hề bất ngờ, sự ra đi của ông đã được số phận gióng chuông cảnh tử, ngót 5 tháng lâm trọng bệnh, những người yêu thơ ông đã trả lại cho Phạm Tiến Duật đầy đủ những gì ông đáng được hưởng. Hiếm có một nhà thơ Việt nam nào lại giành được sự quan tâm đặc biệt của người hâm mộ như vậy. Đó là gì, nếu không phải là sự vinh danh, vâng một sự vinh danh không phải nhà thơ nào cũng xứng đáng được nhận.


Viết gì về ông đây, cũng chỉ là một người yêu thơ ông nhưng tôi có may mắn được đi qua đường mòn Trường sơn trong những năm tháng cuối chiến tranh, được nghe thơ ông từ chiếc đài bán dẫn National chiến lợi phẩm trong phiên gác đêm giữa rừng già miền Đông Nam Bộ, được gặp ông trong những giao tiếp nghề nghiệp, không nhiều nhưng đủ để cảm nhận về một con người với gia sản thơ đã trở thành huyền thoại. Viết gì? Sự nghiệp, con người, thân thế, những tột đỉnh vinh quang, những tận cùng khắc khoải của kiếp người, những day dứt trăn trở cùng những bến bờ thăng trầm số phận của ông đã có bao người viết, bao người biết. Tự nhiên tôi nghĩ đến cái dáng đi lòng khòng của ông xiêu xiêu, tay toòng teng xâu thuốc nam cách đây gần hai tháng trong cái ngách nhỏ của ngõ Văn Chương, nơi ông trú ngụ những ngày cuối cùng trước khi nhập viện để rồi không bao giờ còn được quay trở lại, chợt nhận ra một Phạm Tiến Duật không hào quang, còm cõi, vất vả thậm chí đơn độc trong sự gắng gượng cuối cùng chống lại số phận.

Nhiều lúc tôi cứ tự hỏi, giữa một tượng đài thơ với một con người thực cùng với bao nhiêu hành trang bề bộn của đời sống thường nhật thì cái gì tạo ra khoảng cách xa vời kia? Hỏi đấy nhưng chịu chết không bao giờ tìm được câu trả lời.

Dạo tôi vào chiến trường B2 năm 1974, đại đội cao xạ 57 li của tôi tuy đa phần đều là lính Hà Nội nhưng trong số đấy quá nửa là những nông dân ngoại thành. Họ ít học, có người cả đời chưa cầm đến một cuốn sách văn học nhưng có một điều kỳ lạ tất cả đều thuộc ít nhất vài khổ thơ Phạm Tiến Duật. Sách báo chiến trường hiếm hoi, chủ yếu cánh lính tráng chúng tôi tiếp cận với văn học đất nước bằng sóng radio. Không một chương trình văn nghệ nào bị bỏ sót. Và thơ Phạm Tiến Duật được ví như một món ăn tinh thần không thể thiếu. Bài “Lửa đèn” dẫu chỉ được đọc vài ba lượt trên sóng nhưng lính tráng có người thuộc làu làu. Dạo đó tôi cũng đang tập tọng làm thơ nên khỏi phải nói, chết mê chết mệt với bài thơ này. Chỉ số IQ của tôi không được cao, phàm những gì phải cần đến trí nhớ sao chép là tôi mít đặc, thế nên tôi phải huy động cả khẩu đội tập trung trí tuệ để đọc lại cho tôi chép vào cuốn sổ nhật ký. Chất giọng ồm ồm của tôi chẳng dùng được vào việc gì ra hồn may sao lại hợp với âm hưởng “Lửa đèn” khiến tôi có đất dụng võ. Chỉ cần bập bập bùng bùng mấy nốt dạo ghi ta là tôi đã có thể hào sảng trình diễn ở bất cứ chỗ nào, kể cả giữa trận địa còn nghi ngút khói bom, khói súng giữa hai đợt đánh. Riêng đoạn “đọc” ở trận địa này không phải theo ngẫu hứng của tôi mà là thứ nghi lễ hẳn hoi theo mệnh lệnh của chính trị viên đại đội nhằm động viên tinh thần bộ đội. Mấy chục năm đã trôi qua, cuộc đời tôi đã rơi rụng, đã đánh mất nhiều thứ quý giá nhưng cuốn sổ nhỏ nhoi đã trở thành kỷ vật đó vẫn còn. Bài “Lửa đèn” chép tay bằng bút máy Hồng Hà với mực Cửu Long xịn mang vào từ Hà Nội vẫn còn nguyên dạng dẫu thời gian đã bào mòn nét chữ. Nhiều lần có dịp bên Phạm Tiến Duật tôi đã định khoe ông cái sự sùng bái thần tượng kia nhưng rồi cứ lần lữa không thành. Ngại thì không nhưng cũng thấy bất tiện, cái việc chép thơ ấy với nhà thơ khác là những cảm xúc đặc biệt thì với Duật có lẽ nó chỉ có phần nào ý nghĩa bởi chắc chắn chẳng riêng mình tôi mà hầu như gần trọn vẹn một thế hệ thuộc và chép thơ ông.

Trở lại với cái khoảng cách kia, có lần tôi đã hỏi thẳng Phạm Tiến Duật. Ấy là vào lúc tôi đã có một vài tác phẩm, được vinh dự tiếp xúc làm quen với thần tượng của mình. Phạm Tiến Duật nhún vai không trả lời ngay, ông ngước cặp mắt nhìn lên bầu trời trong sân của khu nhà 51 Trần Hưng Đạo bị che khuất bởi vô số tán cây cổ thụ, không buồn bã, ánh mắt chỉ thoáng sẫm lại rất nhanh rồi lắc đầu. Mãi sau ông mới rủ rỉ buông ra một câu tưng tửng không rõ nghĩa nhưng đầy ám dụ: “Cứ sống đi Tiến ạ…”. Cũng có lần mượn men ruợu tôi lấy tư cách độc giả hâm mộ yêu cầu ông giải thích về sự đứt đoạn sáng tác thơ của ông giữa hai thời kỳ nhất là dở chừng trường ca “Những vùng rừng không dân” mà tôi rất thích. Lần này cũng vậy, Phạm Tiến Duật trả lời như tự thán: “Ít người hiểu Duật lắm.”. Ai cũng biết ông có những nỗi buồn riêng, đã đành cuộc đời chẳng bao giờ suôn sẻ, nào chuyện gia đình, nào những công lênh sự nghiệp nhưng tôi hiểu ông là người dẫu yếu đuối đa cảm nhưng không bao giờ bi luỵ. Nói vậy là ông muốn tránh đi những phiền toái luôn rình rập ngáng trở cuộc sống những người nổi tiếng như ông. Càng về sau này tôi càng ngạc nhiên về sự lận đận của ông trên đường đời. Dạo còn làm Tổng biên tập Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ, có lần ông mời tôi về làm biên tập văn xuôi cho ông. Mời đấy nhưng ngay lập tức ông đã thở dài: “ Nói vậy thôi, chẳng ai chịu về chỗ tôi cả, ít tiền lắm.”. Nhiều người luôn ái ngại cho ông về cái sự luôn chậm trễ trong thời cuộc, lộc lá chia chác chẳng được nhiều. Cái chức vụ Tổng biên tập kia thực chất là cái ghế trống chẳng ai muốn làm, ông phải đành nhận. Còn một vài chức vụ khác nữa, như phó ban đối ngoại Hội nhà văn chẳng hạn thì cũng là hữu danh vô thực. Phạm Tiến Duật biết nhưng ông bình thản sống, dưòng như thơ ca với ông mới là quan trọng. Với vật chất cũng vậy, tôi có cảm giác ông nghèo khó nhưng không bao giờ túng quẫn. Ông có thể viết một bài báo, nói chuyện thơ hoặc làm MC dẫn chương trình để kiếm những đồng nhuận bút ít ỏi một cách vui vẻ. Những tài thơ hiếm hoi như ông lẽ ra không phải chịu cảnh chật chội thiệt thòi như mấy căn nhà ông từng được ở. Nhiều người bảo ông dại, nhiều người khác lại bảo ông khôn nhưng ít người biết chuyện đất cát nhà cửa với ông chẳng bao giờ là quan trọng. Điều này thì tôi kiểm chứng. Cách đây hai năm, khu đô thị Mỗ Lao ở Hà Đông do một nhóm Việt kiều đầu tư có phân lô bán, Phạm Tiến Duật chơi thân với Đỗ Quân, Tổng giám đốc của TSQ là Tổng công ty đầu tư khu đô thị này. Vị doanh nghiệp yêu thơ kia có nhã ý mời ông cùng một vài thi hữu khác đăng ký mua với giá ưu đãi. Lợi nhuận nhìn thấy ngay được, chỉ cần đăng ký, nộp ít tiền ban đầu rồi đợi giá đất lên là sang nhượng hợp pháp, tiền tỉ thì chưa dám nhưng lời ròng tiền trăm tiền triệu là điều rõ như ban ngày. Tịnh không một ai trong đám ông làm việc này. Nguyễn Trọng Tạo cười hề hề: “Đất cát gì, chết đi cũng chỉ hai mét là hết.”. Tôi không bình luận điều này chỉ biết đây là sự thật, những năm cuối đời, Phạm Tiến Duật không có một căn nhà để ở, ông tá túc tại nhà một người bạn ở ngõ Văn Chương.

Đầu tháng Bẩy dương lịch, Phạm Tiến Duật phát hiện trọng bệnh. Hai khối u ở phổi phải đã tuyên án tử hình ông một cách phũ phàng. Ông chỉ điều trị một thời gian ngắn rồi xin ra viện. Đấy là ông sợ bệnh viện. Nghe mách bảo, Phạm Tiến Duật khăn gói lên Lập Thạch, Vĩnh Phúc cắt thuốc của thầy Quang, một lương y xuất thân bác sĩ quân y, người cũng rất đam mê văn chương từng có truyện ngắn in ở Văn nghệ quân đội. Chính ông rủ tôi đi lên đó cắt thuốc chữa bệnh gan. Tôi đang bệnh vái tứ phương bèn hẹn sẽ mang xe đón ông nhưng Duật gạt đi bảo không cần phải lãng phí thế, có xe của một người bạn rồi. Tôi không ngờ chuyến đi đó lại là lần cuối cùng tôi được đi cùng ông, được nghe ông nói những câu cuối cùng về văn chương, nói nhiều hơn cả là bệnh tật, ăn bữa cơm cuối cùng và hình ảnh ông xiêu xiêu xách dây thuốc nam trong ngõ hẹp Văn Chương cũng chính là hình ảnh cuối cùng của ông trong tôi. Khi sức khoẻ của ông đang có cơ tốt lên tưởng sẽ dần hồi phục thì căn bệnh quái ác đến ngày tuyên án. Hai khối u ban đầu ở phổi sau khi uống thuốc đã tan chỉ còn lại một vệt trắng mờ đúng như lời thầy thuốc tiên lượng thì nhiều khối u khác đã lại mọc lan trong phổi, trong não. Bệnh đã đến giai đoạn di căn. Mệt, không thể gượng dậy được, cắn răng chịu đựng cơn đau đầu nhưng Phạm Tiến Duật nhất định không chịu vào bệnh viện. Có vẻ như ông đã biết đến hồi kết của mình. Bạn bè ông phải cương quyết mới đưa được ông vào bệnh viện. Lần này viện 108 đã tiếp nhận ông với tất cả sự nhiệt thành tôn vinh một tài năng thơ Trường sơn nhưng tất cả đã muộn.

Phải đến khi ông lâm bệnh, tôi mới mang đến cuốn sổ nhật ký chiến trường chép bài thơ “Lửa đèn” cho ông xem. Trái với hình dung của tôi, ông lặng đi xúc động. Mãi sau ông mới bảo: “Giờ Duật mới biết Tiến cũng yêu thơ.”. Tôi khoe mình từng mơ khởi nghiệp bằng thơ với vốn liếng không ít. Trong cuốn sổ đó tôi cũng lưu được ít bài. Ông xem lướt rồi cũng như trước đây khen truyện ngắn của tôi, ông đọc to lên hai câu: “Mẹ cho tôi tiếng cười-và tự tôi cho tôi tiếng khóc…Đây là thơ đấy! Tự cho mình tiếng khóc, hay, đúng cuộc đời là như vậy mà. Tiến tin Duật đi hãy dùng hai câu này làm đề từ cho cuốn tiểu thuyết của đời Tiến.”. Ông nói một cách đầy say sưa trước mấy người bạn của ông, ngay trong phòng khám của vị lương y già trong khi chờ đến lượt khám bệnh.

Tôi biết mình không làm được thơ nhưng làm sao tôi lại dám nghi ngờ lời nói của ông, một người đang ở điểm đến cuối cùng. Cũng biết đến bao giờ tôi mới viết được cuốn tiểu thuyết đời của mình. Tôi tin. Tôi tin. Như tất cả mọi người tin vào ông, một con người thơ với tượng đài Trường Sơn sừng sững mãi được lưu giữ trong những tâm hồn thơ, trái tim thơ. Tin, rất tin dẫu ngọn gió Phạm Tiến Duật đã bất chợt tắt lặng, ngừng thổi rời bỏ đại ngàn lạc vào cõi khác./.

PNT

Advertisements

Entry filed under: Chân dung.

“Ma làng” và thi sĩ bạc mệnh Kẻ ăn mày dĩ vãng ( Phần 1)

2 phản hồi Add your own

  • 1. Giao trọc ở Balan  |  Tháng Mười 11, 2009 lúc 8:44 chiều

    Nhớ mãi hôm anh Duật nói chuyện thơ ở Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, phải đến 20 năm trước chứ không ít. Trước bao nhiêu khán giả anh bình luôn bài thơ về những chiếc lá của ảnh ( không nhớ tiêu đề, ..Lá mít như tai trâu…) Hehe..Mọi người nghệt mặt. Mình nghĩ ông này thâm : Đem đàn mà gảy tai trâu. Hehe…

    Phản hồi
  • 2. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Mười 12, 2009 lúc 1:39 sáng

    Anh Duật không thế đâu. Chắc là vô tình.

    Phản hồi

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Tháng Bảy 2009
H B T N S B C
    Th8 »
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728293031  

CHÀO KHÁCH

free counters

%d bloggers like this: