Tiếng gọi

Tháng Bảy 23, 2009 at 6:07 chiều Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Minh hoạ Đỗ Đức

Phạm Ngọc Tiến

Gộc, không phải tên thật của lão. Cái tên đó do người dân làng Mai gọi lâu dần thành quen. Ngẫm cho cùng cái tên với đời người cũng chả mấy quan trọng. Với lão Gộc thì khác. Cái tên gắn bó với cuộc đời đầy bí ẩn của lão. Thêm điều này nữa, người làng Mai thường lấy tên lão để hù dọa lớp công dân hậu sinh đang ở giai đoạn tập ăn, tập nói. Đại loại:


-Ăn đi. Ăn đi con. Lão Gộc đang nấp ở bờ ao kia kìa!

-Làm gì mà khóc rống lên thế hả, thằng ôn vật. Có câm mồm lại không. Không hả? Để tao gọi lão Gộc!

Chỉ thế thôi, cái tên của lão là một mối đe dọa khủng khiếp. Không một đứa trẻ nào không sợ. Nhưng cũng chính những đứa trẻ ấy, dăm bảy năm sau lại coi lão Gộc là người bạn vừa thân thiết, vừa hào phóng, tin cậy. Tất nhiên chỉ những đứa táo tợn nhất. Thành thử, trong một số không ít người làng Mai, lão Gộc là một phần của những ký ức tuổi thơ. Tôi là một người trong số đó.

Lão Gộc ngụ ở một cồn đất nổi, kẹp giữa vùng hồ ao liên tiếp. Làng Mai – một làng ven đô, nghề chính là trồng rau, nuôi cá. Công cuộc đô thị hóa đã khiến cái làng cổ này mất dần vẻ nhu mì, thuần phác, dân dã. Người ta lấp ao, lấn hồ, mua bán, xây cất. Mọc lên những ngôi nhà đủ kiểu dáng. Đa phần lai căng các trường phái kiến trúc. Nhà nào, nhà nấy kệch cỡm đến bỉ lậu. Đất đai vọt giá đắt hơn cả vàng. Khu gò của lão Gộc tuy là đất thẻo, nhưng quy ra mét cũng rộng rãi chán. Gọi là gò chưa hẳn chính xác lắm. Bởi còn có một cái ao nhỏ hoăm hoắm như hố bom, nước đỏ màu đồng quạch, nổi váng rất khiếp. Gò nổi vồng một ụ đất hình mả, mọc đầy một loại cây gì không rõ tên, thân oặt như dây lang, lá chằn chặn như lá trầu. Sơ ý làm đứt thân hoặc lá, sẽ thấy chảy ra thứ nhựa đặc như nhựa xương rồng màu quành quạch đỏ, nom cũng rất hãi. Trước ụ đất có một cái am nhỏ bằng gạch không rõ xây từ bao giờ, vách đã tróc vẩy, rêu bám xanh rì. Trong am có bát hương không bao giờ ngớt khói.

Đáng kể nhất ở gò lão Gộc phải tính đến cây gạo lùn. Từ ngày nhỏ, tôi đã thấy cây gạo choằn choằn như thế. Cành lia ngang, nhìn xa như những bàn tay chìa ra tua tủa. Cây gạo có lẽ rất già, bởi thân cây bị bọn trẻ con dùng dao cậy đi những vấu gai, không mọc trở lại được, thân bằng lỳ như bạch đàn. Lão Gộc ở ngay dưới gốc gạo. Cũng có một gian nhà nhỏ bằng gạch tử tế. Mái lợp ngói ta, loại ngói giờ chỉ còn thấy ở mái đình, chùa. Từ đường cái vào gò, chỉ quãng vài trăm mét. Đường đất chắc khừ, xe máy phóng vèo vèo. Phải kể tỉ mỉ thế bởi những cái ao ven đường đã được phân chia thành lô, chia chác từ tám hoánh. Vậy mà gò lão Gộc vẫn nguyên trạng, dù khu đất ấy chẳng phải của lão. Lão Gộc chỉ là chủ hoang của thẻo đất vô chủ. Đã vô chủ nghĩa là của chung. Của làng Mai, chứ còn của ai nữa. Bố bảo không một kẻ táo gan nào dám động đến gò. Thậm chí không dám ở gần. Vây quanh gò vẫn là ao nuôi cá của làng. Cắc cớ gì mà tiền, vàng cũng không dám chàng màng đến miếng mồi béo bở thế. Hẳn phải có nguyên cớ. Thì vẫn! Cha tôi kể:

-Cái ụ mả ấy, trong chả chứa gì đâu. Đất, chỉ có đất. Tao lạ gì. Bảy mươi tuổi, đầu ba thứ tóc, không nhẽ tao nói sai. Ở làng này sợi tóc chẻ đôi tao cũng biết. Ngoài rìa gò chỉ có nắm xương mục của con bé tự tử dạo gần hoà bình. Nó treo mình ở cây gạo. Đích xác trong gò không có gì. Xác con bé táng ở chỗ cái am thờ ấy. Ngu, ngu thật, thiên hạ xúm xít vào khấn vái cái ụ đất rỗng với nắm xương mục. Chẳng qua chúng dửng mỡ, bày đặt nhố nhăng, chả bù cho ngày trước đói khô răng, có mà cúng. Cúng mồm chửa xong – Bất ngờ ông hạ giọng rất dịu – Cùng trang với tao, lão Gộc là thằng khá nhất. Mình lão đậu thành chung. Không vướng thành phần chắc khấm khá lắm. Khu uỷ ban bây giờ là nhà lão đấy. Giàu nhất vùng, đủ sức di cư cả nhà. Tứ tán hết cả, mình lão Gộc, sau hoà bình ít năm, lừ đừ về, thân tàn ma dại. Làng thương tình cấp trả cái nhà thờ họ, để giữ hương khói. Vậy mà điên khùng dỡ tuốt luôn, mang ra dựng dưới gốc gạo. Đất cát ngày ấy mênh mang bể sở, chó ỉa còn kén chỗ. Đâu như bây giờ. Mà mày giữ môi, giữ mép đấy. Kệ cha cho chúng nó sợ, cứ để lão Gộc bịp chúng. Chúng nó biết sợ tỵ nào, làng còn thêm tỵ đất ấy.

Cha tôi nói đúng toàn những điều tôi đã biết. Song không phải lão Gộc bịp. Đám người tứ xứ cộng với những kẻ cuồng tín trong làng, thường xuyên ra vào nhang khói, thờ cái ụ đất, lão Gộc cho đấy là tội nợ của mình. Béo bở gì mấy thứ lễ vật tanh nồng. Tất tật mọi thứ đám người kia thành tâm để lại, lão phóng tay cho bọn trẻ hết. Nghiễm nhiên lão trở thành ông từ. Một ông từ không miếu mạo. Rõ thật, thời buổi quái lạ, đang dưng cái ụ đất lại phát thánh. Người ta bảo am Thánh cô linh vô cùng. Cô là gái đồng trinh, hồn ký nơi gò. Thành tâm bái khấn cô, cầu gì được nấy. Một đồn mười, mười đồn trăm, thiên hạ kìn kìn đến, nhất là ngày rằm và mồng một. Đông đến nỗi, làng phải cho đấu thầu dịch vụ. Cứ trông xe cộ các loại cũng đã đủ bộn tiền, khu gò lếch nhếch thế mà tươm ra phết. Riêng lão Gộc là dở mếu, dở cười. Đồng trinh, chao ôi, quá bằng đám người kia ỉa vào mặt lão. Nỗi niềm này lão đào sâu, chôn chặt, định bụng chết để trong dạ, sống mang trong lòng. Hãi thế!

Hồi ấy, tôi mới mười hai, mười ba tuổi. Chiến tranh đã lan đến làng Mai tĩnh lặng. Có đến mười lần, làng bị vạ bom vung vãi. Đa phần rơi ra ngoài hồ. Cá chết bom, nổi trắng nước. Chiến tranh với bọn trẻ chúng tôi chả là cái dinh gỉ gì. Sướng là đàng khác. Cá vớt, nướng thơm rạn mũi, ăn thoải mái, chả phải vụng trộm, lo sợ một ai. Dịp hè, hầu như cả ngày bọn tôi lọ mọ ngoài gò. Cũng chỉ vài bốn đứa. Tinh những thằng ngỗ ngược, đầu rắn câng mới ra đấy đánh đu với lão Gộc. Thì cả làng Mai coi lão như kẻ chết rồi. Chứ không. Điên điên, dại dại, cảnh giác thời loạn cao đến thế, người ta cũng bỏ qua lão. Gián điệp qué gì lão. Người đuỗn như cái phích Tàu. Đầu bé chích như đầu sẻ. Mắt cập bà nhèm, rử đánh vành trong, vành ngoài, kinh bỏ bố. Người làng, trừ những lúc quắn đít ù chạy bom, chạy đạn với làm ăn, thi thoảng rỗi rãi, cũng hay phiễu phão về lão. Rặt chuyện đàm tiếu. Người ta bảo, ngày xưa lão oách nhất làng. Con gái nằm mơ cũng không dám đến với lão. Đấy, cái con bé Mận xinh đẹp kịch bậc, mê lão không được, thất chí phải treo cổ ở cây gạo lùn. Của đáng tội, người lão cũng khá. Con nhà giầu mà, chọn chồng chọn vợ kỹ lắm, nên dòng giống sinh sản, chả có đứa nào sứt môi, lồi rốn. Mẽ khá, lại học cao. Dân làng tiếng mẹ đẻ còn ngọng, đằng này, lão tiếng Tây, tiếng Tàu lưỡi uốn như lưỡi sáo. Vậy mà roạch một cái, đời đổi đến rụp. Nhà lão, cao chạy xa bay, chứ không, ít cũng phải vài mạng xoắn cọc. Lão, thà cứ phới hẳn, còn hơn mọ mẫm về làng trong thân hình quặt quẹo, để trở thành gương tày liếp về kiếp đời ân oán.

Lão Gộc điên, nhưng nói năng lại tỉnh hơn cả người tỉnh. Bao giờ tôi cũng có cảm giác lão hom hem không đoán được tuổi. Lão của ngày trước với lão hiện nay không khác gì mấy. Cả cái nết chiều chuộng bọn trẻ cũng thế, có gì bỏ ra đãi bằng hết. Món kể chuyện mới ngon lành. Mê nhất là chuyện Tàu. Trong chừng mực nào đấy tôi phải chịu ơn lão. Hầu như toàn bộ vốn liếng về văn học Trung quốc tôi có, đều do nhận được từ cái miệng sều của lão. Lão khoái tôi hơn cả, thường bảo:

-Tôi với ông nhà cậu ngày xưa học cùng một lớp. Ông nhà có chí lắm. Cậu cũng thế. Sau này sẽ khá.

Sau này, lão Gộc ơi, lão nhầm rồi. Cái gọi là “chí” ấy chỉ kẻ nào lận đận mới có. Cứ nghiệm từ đời cha tôi, đến già nửa đời tôi thì rõ, cực nhọc lắm, không có chí thì toi từ tám hoánh rồi. Có lần, lúc đã mười hai, mười ba, tôi hỏi:

-Sao tên ông lại là Gộc?

-Vì lão ở với cái mả gộc cù sề này. Người ta gọi thành tên. Tên gì mà chả thế, hả cậu? Vả lại, lão cũng muốn tiệt đi cái tên cũ.

Lại hỏi:

-Sao ông không ở trong làng, lại dỡ nhà ra đây ở?

Lần đầu tiên tôi thấy lão Gộc khóc. Miệng chỉ hơi mêu mếu, nhưng nước mắt giàn giụa thành dòng, cuốn trôi cả cục rử tướng:

-Cảm ơn cậu. Trời Phật sẽ phù hộ, độ trì cho cậu. Nói, cậu cũng chả hiểu được. Cậu xem kìa, đàn cá trê…

Hiện rõ trong lớp váng đỏ quạch của mặt cái ao tù, hàng tăm sủi của bọt cá. Thẳng tắp thành một hàng. Đã nhiều lần lão Gộc biểu diễn cho chúng tôi xem tài nghệ bắt cá của lão. Trong cái ao tù ấy duy nhất chỉ loài trê sinh sống nổi. Lão Gộc bảo:

-Trê là loài cá hèn hạ nhất trong các loài cá. Nó ở trong bùn và ăn bẩn nhất hạng.

Điều này lão Gộc đúng. Nhưng lão chưa nói hết, phải không lão Gộc? Nhờ hèn hạ và bẩn thỉu, nên loài ấy con nào cũng béo nần nẫn. Chúng náu mình trong hang, trong hốc khó bắt lắm. Lại sống dai nữa. Bắt lên cạn, đến ngày trời vẫn phì phọp thở.

Lão Gộc lại bảo:

-Tuy nhiên loài cá trê rất tinh khôn. Tổ chức theo bầy, theo đàn chặt chẽ. Đi kiếm ăn có kỷ luật hẳn hoi, nhất nhất nghe theo tín hiệu của con đầu đàn.

Tôi đã mục sở thị tài lão Gộc bắt cá. Phải có mẹo. Lũ cá trê chết vì chính sự tinh khôn của giống giòng mình, thứ kỷ luật tập thể ngu xuẩn kia. Lão Gộc lội xuống ao đặt lú (thứ lờ đặc biệt đan bằng cật tre ngâm và có bốn tầng hom). Lão rải mồi thành vệt thẳng. Mồi là những cục cứt người trộn cơm vê tròn. Con đầu đàn bắt được hơi mồi dẫn đàn xông vào. Cứ thế lớn bé tuốt tuột chui vào lú, gọn cả đàn không sót một mống. Gặp đàn đông, con ở ngoài còn cố phá miệng hom để vào. Gặp đàn ấy, lú không chắc chỉ có công cốc. Thính lắm. Cả cái lú tổ bố róc rách đầy trê. Những con cá mượt mà, au au màu đồng quạch. Nhưng vía chẳng dám ăn, các tiền thêm cũng chịu. Cả lão Gộc cũng thế. Lão tích cá lại trong một cái ang sành, có lái buôn đến cất mang bán ở chợ.

Lần ấy không hiểu vì sao lão Gộc khóc. Mãi sau này tôi mới biết vì sao lão chỉ vào đàn cá trê đang sục tăm. Lão muốn nói đến tín hiệu “tanh tách” của cá gọi nhau. Lão Gộc đã thử cho chúng tôi xem. Cũng bởi chúng tôi không nghe được tiếng cá gọi nhau dưới nước như lão. Lão Gộc thả đàn trê vào một cái chậu đậy hờ, đặt dưới gốc gạo. Lũ cá choi ngược. Một lát thì bật nắp nhảy tứ tung. Con đầu đàn trườn đi, cả lũ nối nhau thành vệt. Áp tai, quả có nghe rõ tiếng chúng tanh tách gọi nhau thật. Tiếng gọi của bầy đàn. Lão khóc vì tôi vô tình động đến niềm riêng của lão.

Cha tôi bảo:

-Cái lão Gộc đến lạ, thất thập rồi, đầu vẫn đen mướt. Rõ thật tội nghiệp. Cái gì trái lẽ đời đều vô phúc cả, con ạ. Không hay hớm gì đâu, tao ngẫm mãi, lão chắc có uẩn khúc gì, mới ở tịt nơi cây gạo. Bao nhiêu năm trời điên dại, dở sống dở chết, dưng mà khôn đáo để. Tình bạn cũ, thi thoảng tao đảo ra thăm, lựa lời gạn hỏi. Cấm moi được gì ở lão. Kín lắm. Người ở ẩn ai cũng thế. Vài bốn năm nay, nảy chuyện thánh cô, náo động cả khu gò, nghiệp lão còn nặng. Tôi nghiệp, sống đã khổ, chết chắc chả sướng gì.

Là ca cẩm thế chứ ông xót lão Gộc thực lòng. Dân làng Mai cũng vậy, đều cám cảnh cho lão. hình như tất cả mọi người đã quên đi thời xa xưa của lão. Kiểu thương người này, giờ có lẽ chỉ còn nơi làng xóm. Nhưng phỏng ích gì. Tình thương cũng chẳng thể vén nổi bức màn bí ẩn bao bọc cuộc đời lão.

Tôi công tác liên miên, hay phải xa nhà. Lần nào về cũng đều ghé thăm lão Gộc. Bao giờ cũng thế, lão đều hơn hớn ra mặt như trẻ nhỏ:

-Cậu tốt với lão quá!

Cũng có lần lão không vui, thở dài sườn sượt:

-Lão sinh ra ở cái làng này. Giờ chẳng có một ai thân thích. May còn có cậu…

Lão Gộc tỏ ra cởi mở với tôi. Cũng chỉ loanh quanh chuyện đời, chuyện đạo. Chưa bao giờ lão hé một tý tẹo bí mật đời mình. Tôi không dám gợi chuyện. Những giọt nước mắt của lão tôi bắt gặp ngày nhỏ vẫn còn nguyên vẹn.

Một lần, đột nhiên lão hỏi tôi:

-Ông nhà theo binh nghiệp cả đời, sao cậu dở chừng lại rẽ ngang?

-Thời mà ông. Mỗi thời một khác, vì vậy phận đời cũng đổi.

-Lão không nghĩ thế. Mỗi đời người theo đuổi một nghiệp thì thành, thứ văn bút cậu theo đuổi – phù du ấy mà. Cậu dại lắm!

Tôi nín lặng. Chẳng biết đúng sai, nhưng tim tôi, lão Gộc đã “huyệt” trúng. Tôi thầm kinh ngạc. Lạ nhỉ. Bao nhiêu năm dờ dật, giọng lưỡi lão vẫn rành rẽ. Luận bàn đủ cả đầu cuối, dù chỉ là chuyện tầm phào.

Lần mới nhất lão Gộc nhờ người nhắn tôi ra. Lần đầu tiên lão làm thế. Đó cũng là lần cuối cùng tôi được gặp lão. Lão Gộc thắp hương vào cái am nhỏ. Lúc ấy cuối chiều. Cử chỉ khác thường của lão cộng thêm cái màu đỏ sậm của nắng muộn nhuộm kín khu gò khiến tôi sởn gai ốc. Lão im lặng rất lâu. Đến lúc con chó lông đen nhẻm của lão tha ở đâu về con cá trê to vật, rồi nhai rau ráu ngay dưới gốc cây gạo, thì tôi không chịu nổi nữa:

-Ông cho gọi cháu có việc gì?

Mắt lão Gộc vẫn nhìn vào am thờ. Giọng lão rỏ như giọt gianh.

-Cậu có tin vào số mệnh không?

-Có lẽ có…

-Tôi không tin – Lão cắt ngang lời tôi – Không có số mệnh nào cả. Con người tự làm ra số mệnh của mình. Nếu có! Chắc chắn thế. Cậu ngẫm mà xem. Chẳng có số mệnh nào bắt được tôi phải sống kiếp người thừa ở cái gò hoang này cả. Tôi tự bắt mình đấy! Tội ác của tôi…

Ôi lão Gộc. Lão nói gì thế? Nội chỉ việc đổi thay ngôi xưng của lão đã khiến tôi hoang mang vô chừng. Lại im lặng. Lần này thì tôi chờ được.

-Cậu bảo liệu có thế giới tâm linh không?

Thêm một sự bất ngờ nữa, tôi hoang mag thật sự:

-Có lẽ không… à có…

-Còn tôi. Tôi quả quyết rằng có cái thế giới ấy. Cậu còn nhớ tiếng loài cá trê gọi nhau không? Tiếng gọi dẫn nhau vào chỗ chết, đưa nhau vào cõi sống. Nhờ thế chúng tồn tại. Loài người cũng vậy. Tất nhiên ở mức độ cao hơn. Bởi vậy tiếng gọi ở thế giới kia vọng được đến thế giới này. Tin hay không tuỳ cậu. Bây giờ tôi sẽ trả lời câu hỏi ngày xưa của cậu. Tôi quay về làng và ở dưới gốc gạo này, vì…

ít ngày sau lão Gộc chết. Một cái chết lạ lùng chưa từng xảy ra ở làng Mai. Một nhóm người đi lễ phát hiện ra lão cong queo ngay trước am thờ. Xác bị cháy thui, quắt lại như đứa trẻ lên ba. Cũng không rõ lão chết vào giờ nào. Cạnh xác lão, con chó mực nằm rít ư ử. Lão chết vì điện? Gò không có điện. Lão tự thiêu chết? Không phải. Chết do cháy xăng dầu ắt phải để lại dấu vết. Đôi dép nhựa còn nguyên, chỗ lão nằm cỏ lành lặn không táp lửa. Hay là sấm sét? Sấm sét phải có tiếng nổ. Suốt tuần ấy trời nắng chang chang. Cuối cùng các chuyên viên pháp y quyết định mang xác lão về phòng thí nghiệm để giám định và nghiên cứu. Việc mang xác dễ ợt, bởi lão tứ cố vô thân. Chỉ có con chó chồm lên, tru rất thảm thiết.

Quãng tuần lễ sau đó, một đêm tôi cứ chập chờn vì những tiếng vọng rất lạ. Không cầm lòng được, sáng hôm sau tôi mọ mẫm ra chỗ khu gò. Ngay chỗ nằm hôm nọ của lão Gộc là xác con chó đen. Tôi cặm cụi moi một lỗ đất vừa đủ để vùi nó, lúc hất nó xuống, tôi chợt lạnh cứng người. Xác con chó còn ấm. Nó vừa mới chết. Chẳng nhẽ tiếng vọng hồi đêm là của nó. Mồ hôi toát ra đầm đìa, tôi vận hết sức vùng chạy. Ra đến đường cái, mới dám dừng chân. Ngoảnh lại nhìn chỉ thấy cây gạo lùn đứng choằn choằn. Những cành ngang chĩa ra tua tủa như những cánh tay người. Những cánh tay nhuốm nắng sớm, đỏ ròng ròng như tưới máu.

Lão Gộc ơi, tôi nghe thấy tiếng gọi rồi. Của lão hay của con chó tội nghiệp kia, chẳng có gì quan trọng cả. Thế là lão toại nguyện nhé. Cái thế giới tâm linh của lão, thú thực tôi vẫn ngờ ngợ. Buộc lòng tôi phải viết ra đây nguyên văn câu trả lời của lão:

-Cả làng Mai ai cũng tưởng rằng cô Mận xinh đẹp kia treo mình tự tử trên cây gạo. Không phải. Chính tôi đã giết cô ấy sau khi chiếm đoạt đời con gái của cô. Tôi đã dựng ra vụ tự tử giả trót lọt. Nhưng tôi không thoát được tiếng gọi đòi trả mạng của cô. Rút cục tôi phải trở về nơi mình gây ra tội ác. Tất cả đơn giản chỉ có thế. Đấy, cậu bảo làm gì có số mệnh. Tự con người cả đấy chứ!

Bây giờ cái chết của lão Gộc vẫn bí ẩn. Người ta chỉ dám giả định lão chết vì một tia lửa điện cực mạnh phóng từ không trung xuống. Có thể đó là một dạng sét, khoa học chưa kiểm soát nổi. Khu gò vẫn nguyên trạng, chưa một ai dám đụng đến. Cả đám người cúng lễ cũng không dám mò vào. Nó còn yên ổn, chí ít cho đến khi thiên truyện này ra mắt bạn đọc.

PNT

Advertisements

Entry filed under: Truyện ngắn.

Chuyện nằm trong ký ức XÍCH CHÓ

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Tháng Bảy 2009
H B T N S B C
    Th8 »
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728293031  

CHÀO KHÁCH

free counters

%d bloggers like this: