Tự cảm

Tháng Bảy 24, 2009 at 8:27 sáng 2 comments

Tặng các con tôi

 

 Có vẻ như họ Phạm ở làng Mộc ngày một suy vi. Các chi cành của nó theo thời gian đang teo dần lại. Cứ mỗi đời lại xuất hiện một người ôm mộng văn chương. Gia phả viết: Chính điều đó làm lụi tàn dòng họ.

 

 Chính dòng đời thứ mười là Phạm Hoà. Oái oăm, ông không ngụ tại chính gốc làng Mộc, một làng nhỏ ven sông.

Làng Mộc chính là làng của họ Phạm do cụ tổ dòng họ lập nên.

Mộc là tên tự của cụ. Gia phả viết: Phạm Bành tự là Mộc có công dẹp giặc cướp ở Hạ Hoàng được ban đất hai trăm hộ. Lấy tên tự đặt cho đất phong.

 Trời đất biến đổi, loạn lạc, thăng trầm, làng Mộc teo tóp dần.

Xưa đất bãi này trên bến, dưới thuyền tấp nập. Về sau trời lấy mất duyên, bến Hạ Hoàng hoang vắng, hiu hắt.

Làng Mộc cũng không còn riêng của họ Phạm. Dân tứ xứ đến ngụ cư đếm không xuể. Duy có nghĩa địa dòng họ là còn thịnh. Đủ cả các đời, rành rẽ phân chia cành trên, chi dưới, đâu ra đấy.

Dân họ Phạm nhớ gốc, chết đều di thư để con cháu mang về chôn cất ở nghĩa địa làng.

Phạm Hoà phải bỏ gốc phiêu bạt không phải do sinh kế mà vì lý do khác. Chuyện ấy nói sau.

 Việc cúng tế giao hẳn cho con cháu ở làng. Khẳng định vai tộc trưởng lại là miếng đất cắm sẵn, nối vào hàng huyệt của tiền nhân.

Trên đã nói, dòng họ Phạm dần bị lụi tàn bởi mỗi đời lại xuất hiện một người ôm mộng văn chương, trong khi gia thế chỉ phát về đường võ.

Điều này ứng nghiệm đến cả đời thứ mười. Duy có điều lạ, tộc trưởng Phạm Hoà, sau một thời vùng vẫy ngang dọc, công danh đến độ, lúc cuối đời lại làm một thứ nghề kỳ cục: đánh xe bò kéo.

 

 Âu cũng là nghiệp. Ngày nhỏ nó không có tên.

Một con bê vàng rất đẹp. Lông mượt mịn màng tịnh không pha tạp chút màu nào khác. Mõm đen như gỗ mun ngâm nước, bóng láng.

Đặc biệt, mắt rất ngộ, tinh ranh hơn cả mắt chó. Bộ vó khum khum, sải cả trăm bước vẫn đều, không hề đá đề một nhát. Giữa trán hiện một cái khoáy, lông dựng xoáy. Đấy là tướng quý, đến cọp cũng phải gờm.

Những ưu điểm này giữ được đến lúc nó trưởng thành. Lúc gặp nó, ông Hoà đã trên năm mươi, đang đảm nhiệm một chức vụ tầm tầm cấp Sở, đột ngột xin nghỉ hưu trước tuổi. Ông về đất cũ chiến khu thăm thú bạn bè.

 

 Chủ nó kể: Cách thức con bê ra đời cũng rất lạ. Mẹ nó có thói xấu hay tách đàn ra ăn mảnh. Bữa ấy trời rất nắng. Mặt trời sà thấp. Mình con mẹ tha thẩn ở giữa đồi.

Bỗng con bò mẹ rống dài man dại. Tiếng rống khủng khiếp đến nỗi mọi người xách súng đổ ra hết lượt. Trên quả đồi mới đốt rẫy nham nhở như một bãi chiến trường đang diễn ra cảnh tượng chưa từng có.

Cả đàn bò rừng đến vài bốn chục con lớn, nhỏ đứng quây tròn, im lặng chứng kiến con đầu đàn làm chức năng duy trì nòi giống với con bò nhà lạc đàn.

Tiếng rống của con bò nhà làm tất cả các mũi súng đều nhất loạt hạ xuống. Chưa có một dịp nào lại xuất hiện những con mồi ngon lành đến thế. Mọi người như bị đắm vào một mê cung huyền bí và linh thiêng.

Khi tất cả bừng tỉnh thì đàn bò đã lặng lẽ biến vào rừng thẳm. Chỉ còn lại con bò mẹ quấn quýt với người bạn tình. Dập dìu một lát con bò rừng mới lồng chạy theo đàn.

Không ai kịp nổ một phát súng, dù con mồi ở trong tầm bắn.

 Sau đó con bê ra đời.

 

 Thoạt nhìn nó, ông Hoà đã mê mẩn. Ông luôn luôn yêu quý các loài vật. Nhưng để yêu một giống như bê bò thì chưa bao giờ.

Con bê vàng cuốn hút ông. Như thể ông và nó có sự sắp xếp của số phận.

Đã mấy lần ngồi trên nhà sàn uống rượu cất bằng men lá trong vắt với thịt rừng phơi khô, nướng thơm lựng, tim ông đã suýt nhảy khỏi lồng ngực vì con bê. Thân hình nó mềm mại in giữa cảnh trí hùng vĩ của núi rừng.

Có một cái gì vừa thanh bình yên ả, vừa trộn xáo phiêu diêu, dâng đến nghẹt thở. Quả thật lúc ấy, trái tim thi sĩ của ông thầm thì điều ước. Phải chi có phép màu nào đó để ông biến thành con bê kia.

Không đành được, ông thốc xuống choàng ôm lấy nó. Con vật không bỏ chạy. Người ông mềm đi khi bắt gặp cái nhìn của nó. Cái nhìn của tiền định.

 

 

 Chuyến ấy ông Hòa mang nó về xuôi. Bạn ông tặng. Phải vất vả lắm mới mang lọt nó về thành phố được.

Tội ngiệp, quen sống cảnh hoang dã, giờ bị bó hẹp trong vài mét vuông sân, mất đến tháng trời nó vẫn chưa thích nghi nổi. Nhịp sống và âm thanh phố phường làm nó hoảng sợ.

Nó bỏ ăn mấy ngày. Cũng may, nó đã kịp bén hơi ông Hòa. Giá không có sự chăm sóc của ông thì hẳn nó đã nghẻo củ tỏi. Ông Hòa phải vót nhọn ống nứa đựng cháo loãng, tọng vào mồm nó.

Lúc đã quen quen, gượng lại sức, con vật lại chịu những tai họa khác. Chả ai ưa gì nó. Cả nhà ông Hòa gần chục nhân mạng, nhìn nó còn hơn cả quân thù, quân hằn.

Cũng dễ hiểu, đang đâu lù lù thêm một suất ở kềnh càng, bẩn thỉu, bố ai chịu được. Chiều chiều, từ nhà ở phố Hàng Than, ông Hòa dẫn nó ra bãi sông Hồng.

Đoạn này thì nó thích. Bị cuồng chân, đến được mặt đê nó vùng lên chạy. Cánh bãi đầy cát và nắng, thỉnh thoảng nó lại bắt gặp đồng loại.

Điều này làm con vật sung sướng. Nó nhảy nhót tưng bừng như một đứa trẻ.

Sự thể trở thành cách rách khi thân thể nó dần phổng phao. Bắt đầu là mấy cô gái:

 -Bỗng dưng nhà lại biến thành chuồng bò. Bố lẩm cẩm mất rồi.

 Anh con trai thứ im lặng thở dài.

 Còn anh cả:

 -Này ông (anh ta đã có vợ, con), ông xem liệu tống khứ cái của nợ này đi. Cứ mang đến Mỹ Kinh làm món bê thui hóa lại có giá.

 Thường thì ông cười trừ: “Cứ từ từ. Nhìn mà xem. Nó đẹp thế!”. Song cũng có lần ông cáu: “ Im mồm cả lũ. Của nợ à, nó lại chả bằng mấy chúng mày!”. Chỉ khi bà vợ vào cuộc, thì ông mới quyết định. Bà giả lả:

 -Hay là ông mang nó về quê mà nuôi, chứ thế này bất tiện quá.

Quê tức là làng Mộc. Mà về đấy thì ông sợ. Chuyện ấy cũng nói sau. Quả tình ông không thể nuôi con bê ở nhà được nữa. Nó đã lớn. Nhưng khi nghe vợ nói thế, ông đã đùng đùng nổi giận. Lại thêm anh con cả chêm vào:

-Cả đời bố chẳng làm được cái gì đẹp mặt cho con cái. Bây giờ lại…

Tiếng gầm của ông cắt ngang câu nói của con trai:

-Đời ơi là đời!

Ông ôm lấy đầu. Ông không nói thêm. Chẳng nhẽ lại bảo, con vật bây giờ chính là cuộc đời còn lại của ông.

Ai lại thế. Họa có là điên. Mà điên thật. Ông quyết định ra đi cùng nó. Ông mua một túp nhà ngoài xóm bãi.

Không ai cản được ông. Tính ông vốn gàn từ nhỏ. Lời than vô tình làm vụt lóe trong ông ý nghĩ. Phải rồi đặt tên cho nó là Đời. Nó xứng đáng có một cái tên.

 

 

Ông Hòa không dám về làng Mộc. Ông còn cả một cơ ngơi của dòng họ. Ông sợ. Từ lâu ông đã bỏ bễ quê quán. Nỗi sợ ám theo ông suốt đời.

Người ôm mộng văn chương đời thứ chín của họ Phạm, chẳng ai khác chính là cụ Phạm Hóa, thân sinh ông Hòa.

Giá là người ở mấu dưới có lẽ cũng chẳng quan trọng mấy. Đằng này cụ Phạm Hóa cai quản cả tộc họ. Lúc bấy giờ dẫu có khí kém so với đời trước, nhưng họ Phạm vẫn còn vượng chán. Mấy họ lớn trong vùng vẫn phải ngước mắt nhìn.

Cụ Phạm Hóa nổi tiếng khắp vùng. Làng Mộc đến tận bây giờ vẫn duy nhất có cụ sắm được ô tô. Điều ấy vẫn chưa sao. Gia sản đủ để cụ chơi ngông. Vận hạn bắt đầu từ khi cụ lao vào văn nghiệp.

Đầu tiên cũng chỉ vài cuộc vui nho nhỏ. Có rượu thịt kèm theo thi ca xướng họa ngâm nga. Đùng một cái tờ “Thi tân” in hẳn một chùm của cụ, với lời tuyên: một hồn thơ đồng quê xuất chúng ra đời.

Thôi, đến đây thì không còn gì cầm giữ nổi cụ nữa. Làng Mộc rộn hẳn lên vì thơ ca. Khách khứa tấp nập.

Từ đường họ Phạm có cơ trở thành quán xá chiêu nạp thi nhân. Cụ đãi khách với cung cách Mạnh Thường Quân bên Tàu thời Đông Chu liệt quốc. Chưa hết, cụ còn bán cả bến gỗ Hạ Hoàng, tài sản nhiều đời của họ Phạm, để lấy tiền mở nhà xuất bản Hồn Quê.

Ồn ã được mấy ngày thì sập tiệm. Cơ nghiệp bao đời của dòng họ phút chốc tan tành như nước lã ra sông, kéo theo giấc mộng văn chương của cụ.

Làng Mộc trở nên hoang vắng, tiêu điều.

ít năm sau. Một bữa, cụ gọi đủ các con về nhà. Có ba trai, ông Hòa là lớn Con gái, cụ đuổi tiệt xuống nhà ngang không cho tham dự. Ngữ ngồi xổm biết gì, theo chồng là hết.

Cụ tắm gội sạch sẽ. Khăn xếp, áo the đàng hoàng. Cụ thắp hương khấn khứa tổ tiên. Ba người con run cầm cập. Lúc ấy ông Hòa đã trưởng thành đang tấp tểnh tham gia Vệ Quốc.

Cụ bắt các con quỳ lạy. Sau đó cả bốn người ngồi nghiêm ngắn trên sập. Giọng cụ trầm trầm:

-Ta không nghe lời răn tiên tổ, trót thỏa chí mình để đến nỗi phá sạch cơ nghiệp. Nay sức ta đã kiệt, đành trông cậy vào các con gây dựng lại cơ đồ. Đã hết cả, chỉ còn thứ này ta để lại.

Nhanh như một lằn chớp, tay cụ vung lên, bằng một thế võ hiểm của dân sông nước Hạ Hoàng, ngón tay trỏ lẹ làng móc ra gọn ghẽ con mắt tả.

Cụ điềm nhiên đặt con mắt vào chiếc đĩa cổ để giữa sập. Con mắt chưa kịp rịn máu, thót thót như còn sống. Đồng tử giãn ra vẫn còn sinh khí.

Người con út ngất xỉu. Người con thứ ôm mặt hét lên.

Còn ông Hòa ngồi chết lịm. Thân ông dập dềnh sóng dợn như bị hồn bà chúa Liễu nhập đồng.

Mắt ông hút vào con mắt mở của cha như bị thôi miên. Ông còn nhận thấy một đốm sáng vừa vụt tắt trong con ngươi. Tiếng cụ Phạm Hóa u u như từ cõi âm thoảng về:

-Đấy là cái ta cho các con. Riêng anh cả càng cần phải giữ.

Rất nhiều năm sau, con mắt thót thót trên đĩa dập tắt mọi đam mê thi phú trong ước mộng lãng mạn của anh Vệ quốc từng đậu thành chung trường Bưởi.

Ông Hòa giao cơ nghiệp lại cho các em và đám cháu ở làng. Suốt kháng chiến ông đi biền biệt.

Ngày chiến thắng trở về, ông không dám ở làng. Chỉ thi thoảng đảo về. Nỗi sợ hãi quá lớn. Nỗi sợ vì con mắt ám ảnh, vì lời răn và bầu thi sĩ của mình.

 

Con Đời lớn rất nhanh. Xóm bãi có vẻ hợp với nó. Từ một con bê óng ả nó đã trở thành con bò đực cường tráng.

Nó oai vệ trước đồng loại suốt một dải sông. Không có con bò nào sánh được với nó. Khỏi tả thêm. Giá có cuộc thi bò hẳn nó phải đỗ trạng. Ông Hòa nhận được nhiều lời gạ gẫm.

Cánh lái bò lọc lõi, trước con Đời, quên béng cả dèm pha nghề nghiệp, mắt lác xệch, miệng không ngớt xuýt xoa và đẩy giá cao vọt. Ông từ chối. Làm sao ông có thể xa nó được.

Nó và ông như đôi bạn vong niên. Hơn thế, như cha và con quấn quýt. Nhưng chả lẽ ông cứ phải lóc cóc cung phụng nó mãi. Sức nó trẻ mà ông thì đã về chiều. Cuộc sống thường ngày, có lương hưu ông cũng chả đến nỗi khốn khó. Bọn trẻ tuy chê ông điên gàn, song thi thoảng vẫn liệng cho ông ít tiền để báo hiếu hơn là nuôi dưỡng.

Ông phân vân không biết tính bề nào cho ổn. Thấy ông thế, con Đời biết lắm. Nó lấy cái mõm đen ướt gại gại vào người ông. Đấy là nó định an ủi. Ông Hòa vuốt ve nó.

Cặp mắt nó sáng lên. Đồng tử lóng lánh như hai hòn bi ve.

-Làm thế nào bây giờ, hở Đời?

Nó lim dim mắt. Rồi nó ềnh xuống giữa sân. Nó nằm ghếch đầu lên hai chân trước. Miệng bỏm bẻm nhai lại. Nó không trả lời ông.

Hôm sau, hôm sau nữa, ông đi đến một quyết định. Ông không thể xa nó Ông thuê đóng một chiếc xe bánh hơi.

Năm nhăm tuổi, sức lực ông còn. Nó và ông sẽ sống nốt phần đời còn lại. Hôm ông dẫn nó vào chuồng đóng móng, nó cứ ngơ ngác nhìn ông.

-Không đau lắm đâu, Đời ạ. Phải đeo móng sắt vào mới đi được trên đường nhựa. Chú mình đừng sợ. Chú mình phải làm để nuôi ông chứ.

Nước mắt con Đời trôi thành vệt ròng ròng trên má.

Nó vùng vẫy. Con bò nào cũng sợ đóng móng sắt. Nó tập tễnh mất tuần lễ. Cũng phải mất thêm tuần lễ nữa nó mới chịu chui vào gióng xe.

Ngày đầu, nó không chịu nổi cái càng xe nặng trịch ách vào vai. Mắt nó ngầu lên. Cặp sừng vằng đi, vằng lại.

Không nhai nhưng mõm nó sùi đầy bọt bóng. Ông Hòa phải vỗ vỗ mãi nó mới chịu yên:

-Làm gì đấy, chú mình. Hượm nào. Rồi sẽ quen, Đời ạ!

Ông Hòa trở thành người đánh xe bò từ đấy.

 

Cái tin tộc trưởng họ Phạm làm nghề xe bò kéo ở thành phố chẳng mấy chốc lan về đến làng Mộc.

Cái làng xác xơ vì nghèo vẫn hốt hoảng coi tin này là một điềm dữ cho dòng họ Phạm. Thôi chết, hay là động long mạch, hay là động mồ? Mọi người tiếc cho ông đang tọa hưởng công danh lại đùng đùng nghỉ hưu rồi khoác vào mình cái ách khốn khổ.

Có người hiểu biết hơn thì cho rằng, ông cứ theo nghiệp thơ thẩn lại chả chán vạn lần hơn thứ nghề mạt hạng kia. Rốt cuộc, họ tộc cũng phải họp mất một buổi để xem xét tình hình.

Chuyện rồi cũng qua. Chả ai dại gì thế mình vào miếng đất huyệt định sẵn. Có gì hãi bằng tự mình nhìn thấy trước chỗ nằm xuống.

Được một dạo, ông Hòa đâm thích thú với cái nghề mới này. Con Đời cũng đã quen. Hai thầy trò rong ruổi trên đường phố, lắm lúc cũng vui đáo để. Ông chỉ làm vừa sức.

Sau mỗi chuyến đi, con Đời được giải phóng. Nó tung vó trên cánh bãi. Lúc ấy, nó trở lại là con bò đực cường tráng, không còn vẻ nhẫn nhục của con bò kéo xe lam lũ.

Ông Hòa nhìn theo nó. Lòng ông rộn lên. Chỉ những lúc như thế này ông mới đủ thư thái để tĩnh tâm nhìn lại cuộc đời mình.

Ông thừa hưởng ở cha trọn vẹn niềm đam mê thơ phú. Từ ngày còn học ở trường Bưởi, ông đã thấy rung động và biết mình là tù binh bị nàng Thơ cầm giữ.

Suốt những năm công tác, từ anh lính Vệ quốc đoàn, đến trưởng cơ quan của một ngành đường sắt, rồi về nghỉ, ông luôn bị câu thúc bởi sự níu kéo trong tâm tưởng.

Trái tim ông nhạy cảm. Tâm hồn ông phóng khoáng. Ông không dám phát tiết. Lời răn và con mắt độc của cha luôn hiển hiện trước ông. Ông âm thầm nuốt chữ vào bụng.

Lạy trời, có những đam mê khốn khổ lạ lùng đến vậy. Trong suốt cuộc đời, ông phải gồng hết sức mình để kìm nén. Chỉ có một lần suýt nữa ông không giữ được mình. Lần ấy ông nhớ lắm.

Chuyện xảy ra ngoài cánh bãi. Hôm đó, sau buổi làm, hai thầy trò dẫn nhau ra ngoài bãi sông.

Một buổi chiều đẹp tuyệt vời. Mặt trời say lử đử, la đà, mặt nước hồng rực. Gió phất phơ. Cát mịn vàng óng ả. Con Đời cao hứng rượt đuổi đàn bò cái ở ven sông. Giống bò chuyên cày đất thay trâu. Những con bò nhỏ thó chạy tán loạn.

Nó định giở trò trăng gió. Phải vất vả, ông Hòa mới ghìm nó lại được.

Ông bảo: “Thương chú mình lắm. Nhưng không được. Phải giữ sức. Kiếp bò kéo…” .

Nó nhìn ông. Hai chân trước của nó cào cào. Cát vảy tung tóe. Ông Hòa quay mặt đi, rầu rầu: “Đừng nhìn ông thế, chú mình. Trách ông làm gì, phải tội!”.

Con vật lủi thủi đi theo ông. Đầu cúi gằm gặm, nó uể oải nhấc từng bước chân. Tội nghiệp mày, Đời ơi. Ngực ông rát bỏng.

Có cơn gió xoáy cuộn dâng lên. Bất ngờ, từ thẳm sâu cõi hồn ông rành mạch tuôn ra những câu chữ như được sắp đặt sẵn:

Con mắt cha hóa thành chiếc điếm canh đê

Thả nỗi đau canh chừng con, chú bê vàng tội nghiệp

Xin hãy để cho bê con vục vào vú cỏ

Và nắng và gió và bầu trời…

 Ông Hòa vội vã quặn người, bịt lấy mồm. Trước mắt ông hiển hiện con mắt của cha. Chắc chắn giấc mộng văn chương của ông sẽ không bao giờ thành.

 

Bẵng đi một thời gian. Ông Hòa đã quên gần hết những gì xảy ra trong đời mình và ngỡ rằng cuộc viễn du của ông và con Đời đã khởi đầu từ lâu lắm, thì mộng ước kia lại trở về mãnh liệt.

Mạch máu của ông dồn ứ, căng cứng. Chữ nghĩa va nhau xủng xoẻng. Vần điệu xếp hàng chật chội.

Trái tim ông luôn thổn thức. Có lúc ông đã muốn bật ra từ mình những gì phải cất giữ trong ngần ấy năm trường. Kỳ lạ. Vẫn vẹn nguyên con mắt của cha. Không thể được!

Chính lúc ấy thành phố có lệnh cấm hẳn các loại phương tiện vận tải súc vật. Cuộc viễn du của ông và con Đời đã kết thúc. Một lần nữa, ông lại phải quyết định.

 

Đêm ấy trăng rất sáng. Cả một miền bãi vằng vặc. Tự tay ông cắt một gánh cỏ gà non ướt đẫm sương. Ông Hòa thức trắng cùng nó.

Ông xoa lần vai đã chai cứng, dấu tích đời viễn du của nó: “Đời ạ, cả chú mình và ông đều già rồi. Tha lỗi cho ông nhé. Không còn cách nào khác. – Con Đời lấy cái mũi đen ướt gại gại vào người ông. – Chúng mình sẽ gặp nhau!”.

Nó lim dim mắt. Rồi nó ềnh xuống giữa sân. Nó nằm ghếch đầu lên hai chân trước. Nó vục mõm vào đống cỏ thơm mềm mại. Không ăn!

Ông Hòa gióng xe từ sáng sớm. Con Đời chậm chạp bước. Ông dẫn nó đến nhà mổ.

Ông quyết định tự mình làm việc ấy. “Để linh hồn con nhanh được siêu thoát, Đời ạ!”. Gần đến khu vực lò mổ thì đường tắc. Một chiếc ô tô lớn bám đầy bụi đất đỏ quạch đang nhả những con bò xuống đường.

Đấy là đám lái buôn gom bò từ mạn ngược về khu nhà mổ Mai Động để xả thịt.

Những con bò núi đồi ngơ ngác, sợ sệt, co cụm vào nhau. Âm thanh và cảnh tượng phố phường càng làm cho chúng hoảng sợ.

Con Đời ngước nhìn đồng loại. Nước mắt nó chảy thành vệt ròng ròng trên má.

Đám lái buôn lăm lăm roi mây lùa đàn bò ép sát vào vệ đường.

Bỗng từ đàn bò phát ra tiếng hú dài thê thảm. Tiếng hú của rừng hoang hay tiếng gọi bầy đàn!

Con Đời ngẩng phắt cặp sừng. Hai chân trước của nó cào cào tóe lửa mặt đường nhựa. Cặp mắt của nó sáng lên. Đồng tử lóng lánh như hai hòn bi ve.

Bằng một sức mạnh đột khởi, nó mang cả chiếc xe gông trên người, phi thẳng vào đàn bò, chỗ phát ra tiếng hú.

Ông tộc trưởng họ Phạm đời thứ mười bị hất văng ra khỏi xe, ngã đập đầu xuống đất. Mọi người thấy ông nhanh chóng bật thẳng dậy.

Mắt ông hướng về phía đàn bò. Ông cất thành tiếng gọi: “ Đời ơi!”.

 

Đám người xúm xít quanh giường bệnh. Ông Hòa vừa tỉnh lại sau ba ngày hôn mê vì chấn thương não.

Mắt ông dại dần đậu lại ở từng người thân. Hơi thở ông mảnh, yếu.

Ông đang thở những nhịp cuối cùng. Môi ông mấp máy Mọi người cuống quýt.

Bà vợ: “Kìa mình. Mình nói gì đi.”. Tiếng anh con cả: “Bố. Bố nói gì. Còn gì nữa?” Mấy chị con gái rấm rứt khóc.

Bọn trẻ con lách vào, kiễng chân để xem. Người con trai thứ gạt mạnh anh mình ra, ghé sát xuống.

Môi ông vẫn cố mấp máy. Có vẻ ông gắng gượng vét tàn lực cuối cùng để nói.

Anh con trai nhìn vào mắt bố nghẹn ngào: “Nắng – Gió…”.

Mắt ông Hòa sáng dần trở lại. Môi ông mấp máy rõ hơn như được tiếp thêm sức mạnh.

Khi người con trai nấc lên tiếng: “Bầu Trời” thì khuôn mặt ông giãn ra và nước mắt ứa tràn. Đầu ông khẽ gật.

Môi ông vụt hiện một nụ cười mãn nguyện. Trong tích tắc, nụ cười mang ông Hòa bay đi.

 

Người con trai thứ của ông Hòa sau này trở thành một nhà thơ tên tuổi. Anh xuất hiện bằng bài thơ đầu rất nổi tiếng mang tên “Tự cảm”. Trong đấy có Nắng, Gió và Bầu Trời.

Hết

Advertisements

Entry filed under: Truyện ngắn.

Nguyên quán – kỳ 2 Vọng thanh

2 phản hồi Add your own

  • 1. van  |  Tháng Bảy 31, 2009 lúc 9:05 sáng

    Đọc câu đầu, em cười một mình: Lẽ ra anh phải viết “Kính tặng các con tôi”, vì anh bảo anh sợ chúng nó mà! Khekhekhe!

    Truyện về dòng họ anh thật hả anh Tiến? Chỉ có câu cuối khiến em hơi nghi hoặc vì trong tác phẩm của anh, anh có bao giờ nhận mình hơn một “nhà văn quèn, nhà văn kém cỏi đâu”?

    Nỗi đau Đời, chẳng phải chỉ nhà văn mới có!

    Phản hồi
  • 2. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Bảy 31, 2009 lúc 7:19 chiều

    Truyện này gần với sự thật nhất.

    Phản hồi

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Tháng Bảy 2009
H B T N S B C
    Th8 »
 12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728293031  

CHÀO KHÁCH

free counters

%d bloggers like this: