Khoảnh khắc

Tháng Tám 9, 2009 at 6:06 chiều 27 comments

Không còn đủ sức để chạy nữa, Hoán chuếch choáng bước. Con đường nhựa thăm thẳm láng thứ ánh nắng vàng vọt, quái đản của mặt trời mùa đông rét mướt, hun hút nhấn từng bước chân chật chưỡng của Hoán. Suốt cả ngày nay, Hoán cứ như thế vừa chạy, vừa đi, lang thang vô định. Đi đâu? Hoán không biết nữa. Chỉ biết rằng Hoán đã bỏ lại phía sau một quãng đời. Ở đấy, hình bóng Lài – Người vợ với bao nhiêu yêu thương và hận thù một thời đã vĩnh viễn bị xóa nhòa. Liều thuốc đắng quên lãng, Hoán dùng nó để chạy trốn chính bản thân mình đã đẩy Hoán xuống tận đáy của sự khốn cùng. Ngót chục năm trời, nào ai có tù túng, giam hãm gì Hoán. Hay là nỗi tuyệt vọng, sự quạnh quẽ, cô độc của một người bị tước đoạt lòng tin, đã đẩy Hoán chơi vơi mãi trong cái bể mông lung của sự quên lãng. Thì cứ quên đi, cuộc chạy trốn không có kẻ săn đuổi.

Chập choạng tối, Hoán đi đến một cái ga xép. Nhà ga tồi tàn như một cái miếu thờ đã hết thời linh thiêng, chỉ lèo tèo vài hành khách nhỡ nhàng. Cảnh nhếch nhác của họ đưa Hoán trở về với thực tế. Trận rượu chiều qua và đêm truy hoan lầm lỗi với người vợ cũ phản bội, cộng thêm một ngày đường dở điên, dở dại đã vắt kiệt sức lực của Hoán. Hoán lê cái thân xác cồng kềnh trống rỗng ngồi nép sát hiên ga. Gió thổi, lạnh lẽo và rét mướt. Hoán run lên, răng đánh lập cập. Cái rét từ gió mùa chỉ làm da thịt Hoán tê tái, không tàn nhẫn bằng những đợt sóng run rẩy mỗi lúc phát ra một mạnh mẽ từ cái dạ dày lép kẹp. Hoán đói. Sao con người lại đa mang nhiều hiểm họa đến thế. Lạ lùng thay, vào lúc này, đáng lẽ mọi tinh lực còn lại của Hoán phải được huy động để được bấu víu vào – dù là tưởng tượng – một cái gì đó, khả dĩ tiêu hao phần nào cơn đói vật vã, thì Hoán lại phiêu diêu thả hồn mình vào trận lạc rừng đói khát gần hai mươi năm trước tại vùng Đa Quýt. Ở đấy Hoán gặp Lài, để rồi những bất hạnh ập xuống đời Hoán. Hỡi ôi, khoảng cách giữa hai lần đói là một quãng đời lầm lạc. Chỉ có con người tàn nhẫn với con người, tạo ra muôn vàn đau khổ. Hoán nghiến chặt răng. Nỗi căm giận của vết thương sau bao nhiêu đổ vỡ tưởng đã lành miệng bởi liều độc dược lãng quên, lại bật ra ứa máu. Mắt Hoán nhòa đi. Biết đi đâu, về đây bây giờ. Về làng ư? Hoán đã bỏ làng  xóm ra đi, Hoán không thể trở về với bộ dạng thảm hại như một kẻ hành khất thế này. Thà chết còn hơn. Ánh đèn pha ô tô quét ngang mặt đường làm lóe trong Hoán một dự định. Hoán bật dậy nhanh nhẹn đến không ngờ, nhao ra mặt đường. Chiếc xe vút qua để lại một khoảng đen đặc sẫm đến rợn người. Hoán bỗng bật cười. Thoảng đâu đó ngào ngạt mùi xào nấu thức ăn. Quầng sáng xanh lét của đèn măng sông dẫn Hoán đến một quán ăn chỉ có vài ba người khách đang xì xoạp, chan húp. Hoán dán mắt vào con gà treo lủng lẳng, mình nhoáng mỡ. Hoán lặng lẽ ngồi vào chiếc ghế trống ở góc nhà. Ngần ấy con mắt đổ dồn ra nhìn. Hoán sờ sẫm túi áo rồi túi quần. Túi rỗng không. Chủ quán, một gã đàn ông gầy guộc, đang băm chặt gì đấy, tay vẫn lăm lăm con dao phay to bản, tiến đến cách Hoán chừng một mét thì dừng lại. Mắt gã đảo suốt người Hoán. Bỗng gã rít lên:

– Con lạy ông. Ông có cút mẹ ông đi ngay không? Suốt cả ngày hàng ế ẩm, tối vẫn còn cháo ám. Đi ngay không bố mày cho một nhát bây giờ.

Hoán ngồi yên không nhúc nhích. Đám khách dáng chừng là dân lái xe đã ăn xong gọi chủ quán lại tính tiền. Một người giọng lè nhè: “Kệ nó!”. Đoạn y quay sang Hoán, tay chỉ vào bàn lổn nhổn xương xẩu lẫn thức ăn thừa: “Ê! đói hả? Vào đây, dọn sạch cũng đủ ấm cật đấy”. Hoán đứng phắt dậy. Cái đói bản năng không thể lấn át được nỗi nhục nhã lý trí. Trời ơi miếng ăn. Miếng ăn bẩn thỉu vì những đồng tiền bẩn thỉu. Như kẻ mộng du Hoán lùi lũi bước ra khỏi quán. Phải chi bây giờ Hoán có, dù chỉ là một ít tiền. Thinh không bỗng lòe sáng. Một vệt sao rời ngôi vút qua đêm. Tai họa lớn nhất trong mọi họa dành cho con người là  tiền.

*

*     *

Hoán gạt mạnh đám vỏ bia lon khỏi mặt bàn rồi bảo cô gái có bờ vai tròn lẳn, nãy giờ vẫn phục vụ  Hoán ăn uống lấy thêm rượu. Cô gái giọng nuột nà: “Còn bia mà anh.”. Hoán lắc tay. Bia Hoán chả thích. Uống ít chỉ thòm thèm, không đã. Uống nhiều vừa say lâu, vừa đái lắm. Quán ăn Hoán ngồi nằm tít trong hẻm ngõ. Sâu thế nhưng nó sang trọng và kín đáo. Từng đôi, từng đôi một vừa ăn uống vừa cớt nhả. Nãy giờ Hoán uống bia vì nể lời mời của cô phục vụ. Chẳng hiểu sao Hoán lại lạc vào ổ điếm trá hình này. Cả cái thành phố biển này nữa. Hoán không cắt nghĩa nổi. Đơn giản là Hoán đang sẵn tiền. Có tiền thích thì đi, đâu mà chẳng được. Sau cái lần đói nhục nhã đêm ấy, Hoán buộc phải thừa nhận một sự thực cay đắng: Lài bỏ Hoán vì tiền – Lẽ ấy đương nhiên Hoán đã biết – Chính vì thế mà bao lâu nay Hoán căm thù đồng tiền. Nhưng bọn người hạ nhục Hoán đã vô tình khơi dậy trong Hoán niềm khao khát mạnh mẽ phải có tiền. Vì sao? Hoán không cần lý giải. Hoán lộn trở lại cái làng ngoại ô, nơi Hoán đã náu ẩn suốt thời gian quên lãng cùng con lợn lai tội nghiệp. Hoán sang ông chủ đất năm xưa đã cưu mang Hoán. Chẳng vòng vo Hoán bảo: “Tôi đi, bác ạ. Cảm ơn bác đã bán cho tôi miếng đất. Bây giờ tôi cần tiền!”. Ông kia đáp: “Có gì đâu mà ơn huệ. Chuyện mua bán ấy mà. Anh đi tôi không giữ. Ta sòng phẳng. Tôi cũng đang cần nhà cho thằng út lấy vợ.”. Hoán bảo: “Thế là tốt cho cả hai.”. Ông kia hỏi: “Chú lấy bao nhiêu?”. Hoán đứng dậy: “Tuỳ bác!”. Mọi thủ tục mua bán diễn ra chóng vánh.

Cô gái điếm quàng tay qua vai Hoán bả lả: “Thôi không cần uống nữa anh nhé. Để sức còn…”. Từ sau lần gặp và được Lài trả nợ tình, nhất là khi đã bán nhà có tiền. Hoán sống lang thang, buông thả. Đôi khi quá đà, Hoán thấy ngường ngượng, nhưng rồi lại tặc lưỡi. Đời là thế. Chúng nó có yêu quý gì nhau đâu. Chẳng qua vì đồng tiền. Đấy, ngay cả Lài… Đã nghe rõ tiếng cô gái điếm. Hoán vẫn nhếch mép: “Còn cái gì nữa?”. Cô gái dứ dứ tay vào trán Hoán âu yếm: “Mặt này lại còn phải hỏi. Có mà ăn sống, nuốt tươi người ta…”. Hoán bia rượu đủ tầm đã bốc nhưng vẫn tỉnh táo, giọng lạnh tanh đến cay nghiệt: “Cô cần lắm à, phải trả bao nhiêu?”. Cô gái sững sờ. Chút nhân tính còn lại hiện lên khuôn mặt mới chỉ chừng mười tám đôi mươi của cô. Có lẽ vì hoàn cảnh, hay vì một ham hố dại dột nào đó đã quật cô ngã vào vũng bùn nhầy nhụa của sa đọa. Cũng vì thế mà chỉ một chút cỏn con nhân tính đã bốc gọn nỗi nhục nhã, để bày ra trọn vẹn niềm tự trọng con người. Cô dang tay tát thẳng vào mặt Hoán rồi òa khóc. Hoán chưa kịp phản ứng vì cái tát bất ngờ đã thấy vai bị ấn chặt bởi hai bàn tay rắn chắc. Có đến ba thằng thanh niên to lớn, nhâng nháo vây quanh Hoán. Chúng là vệ sĩ của quán. Một thằng gằn giọng: “Sao, định quậy à?”. Cú đấm mạnh bay tiếp theo nhằm giữa mặt Hoán. Hoán nảy người lên tránh. Cú đấm sạt qua cái túi căng phồng đựng tiền của Hoán làm bật mớ tiền giấy. Tiền rơi lả tả xuống nền nhà. Ba gã du côn ngây người trong giây lát rồi mắt chúng bừng sáng. Như hổ đói vồ mồi, chúng lao vào đống tiền. Sau một chuỗi bất ngờ, Hoán bừng tỉnh, lòng sục sôi căm giận. Căm giận tột độ là căm giận có hàm chứa niềm ghê tởm. Chúng mày nhặt gì đấy? Cả cuộc đời tao phải đánh đổi, để bây giờ chỉ còn lại những tờ giấy này. Chúng mày định cướp nốt sao? Gã lực điền – Một thời cày cuốc, từng là lính trinh sát, từng chỉ huy một đơn vị vào sinh, ra tử, phải chạy trốn cuộc đời chịu bao nhiêu tủi nhục, giờ đây uất hận dồn nén hét lên một tiếng man dại. Trong khoảnh khắc ba cây thịt đã quằn quại trên đống tiền. Những tờ giấy bạc, chốc lát nhuộm đỏ máu người. Hoán đứng dậy bất động. Khóe mắt Hoán từ từ đọng lại hai giọt nước tròn đục. Nước mắt của đàn ông hiếm hoi chỉ dành cho nỗi đau nhân tình. Chao ôi, sự sống là cái gì mà quyền lực gớm ghê, mãi mãi buộc con người nhục nhằn, tìm kiếm. Bây giờ, khi Hoán thoát ra được cảnh mịt mùng vô thức của kiếp sống quên lãng, trở về với cộng đồng bằng túi tiền phồng căng và niềm khao khát sống, những tưởng được đàng hoàng, nào ngờ một thực tế còn mù mờ hơn cả lúc trước. Có tiền, cần phải có tiền và Hoán đã có. Nhưng tiền để làm gì? Để làm cuộc viễn chinh kiếm tìm hạnh phúc? Khó khăn làm sao. Để hành hạ những kẻ khốn cùng như cô gái bán dâm hay những kẻ có cuộc đời lang thang, vô định như Hoán? Có tiền, Hoán vẫn thấy cô độc, vẫn thấy bọn người như Lanh và Lài cao xa vời vợi. Thậm chí Hoán còn tưởng tượng thấy chúng mỉm cười nhạo báng. Cuộc đời chua xót thật. Sống làm người mới khó làm sao.

Cả quán vẫn lặng như tờ. Có lẽ bọn khách hàng trụy lạc đã quá quen với cảnh này. Ba thằng du côn lồm cồm bò dậy, mắt vẫn lấm lét nhìn Hoán. Chỉ có một gã trung niên từ lâu ngồi một mình ở góc quán đứng lên. Gã cao lòng khòng. Da trắng nhưng là thứ trắng bợt bệnh hoạn của hạt gạo ngâm lâu dưới nước. Gã trân trối nhìn Hoán. Cái nhìn không giấu diếm sự ngưỡng mộ. Bỗng gã ào đến ôm chầm lấy Hoán: “Ơ kìa, đúng rồi anh Hoán”. Hoán dụi mắt. Sơn đấy ư? Bao nhiêu năm rồi, tao với mày mới gặp lại nhau.

*

*    *

Chiến tranh như một cơn lốc dữ dội, cuốn hút và kết tinh lại bao số phận con người. Sơn và Hoán cũng nằm trong cái quy luật ấy. Họ đã từng là đôi bạn thân thiết, gắn bó số phận mình với nhau. Sơn kém Hoán gần chục tuổi, thuộc thế hệ lính nhập ngũ sau giải phóng bảy nhăm. Sẽ chẳng có gì đặc biệt trong mối quan hệ ấy nếu như giữa hai người không có một kỷ niệm chảy bỏng, khảm sâu vào tâm linh mỗi người. Sau này kể quãng đời cùng cực nhất, khi mà Hoán cố tình quên đi tất cả, thì kỷ niệm ấy vào những lúc Hoán buồn bã nhất lại hiện về. Nó ám ảnh, thậm chí dằn vặt Hoán.

Đó là những ngày đầu của năm bảy tám, chiến tranh ở biên giới Tây Nam đã lan trên một quy mô lớn. Trung đội trinh sát do Hoán làm trung đội trưởng có nhiệm vụ tác chiến độc lập ở một thị trấn nhỏ cách tỉnh lị Hà Tiên có vài chục ki lô mét. Thị trấn kẹp sát đường biên. Suốt một tuần liền, trung đội của Hoán dằng dai với chừng một tiểu đoàn lính Pôn Pốt. Tiếng là thị trấn nhưng dân đã sơ tán hết cả. Các dãy phố bị trọng pháo 130 ly của địch chà đi, xát lại kỹ đến nỗi không còn một bức tường nào nguyên vẹn. Đến buổi chiều đầu tiên của tuần thứ hai, địch tăng cường quân, chặt đứt đường tiếp viện, vây chặt trung đội của Hoán. Nguy cơ bị tiêu diệt toàn bộ là không thể tránh khỏi. Trung đội Hoán gần như đã mất sức chiến đấu. Một nửa số chiến sĩ đã nằm xuống, lấy thị trấn vô danh làm quê hương vĩnh viễn. Cả thị trấn có mỗi một con lộ đi qua đã bị địch chốt chặt hai đầu. Từng đợt, từng đợt lính áo đen chân đất, nhung nhúc như ròi, liều mạng tiến công quyết chiếm bằng được thị trấn. Tình hình ác liệt, đòi hỏi phải có phương án chiến đấu thích hợp. Hoán chớp nhoáng hội ý các đảng viên. Một phương án được thống nhất. Toàn trung đội giữ vững trận địa đến tối sẽ chém vè xuống một con kênh, sau đó băng qua một khoảng sình rộng, rút ra hướng biển. Để  đơn vị rút lui an toàn cần phải có một người trang bị bị hỏa lực mạnh ở lại nghi binh thu hút địch. Không còn cách nào khác, lợi dụng lúc địch nghỉ tấn công, Hoán họp toàn đơn vị phổ biến nhiệm vụ. Ai sẽ là người người ở lại? Không còn nhiều thời gian, Hoán gằn giọng: “Lấy  tinh thần xung phong. Các đồng chí đảng viên, đoàn viên…”. Tiếng nói của Hoán, chìm sâu trong một bầu không khí lặng lẽ phủ đầy chết chóc. Hình ảnh Lài, người vợ Hoán mới cưới đợt phép vừa rồi, thoảng qua nhanh. Hoán nói tiếp: “Nhân danh chỉ huy đơn vị, tôi chỉ định…”. Một cái bóng lòng khòng vụt đứng dậy, cắt ngang chỉ lệnh của Hoán. Bất ngờ từ phía trận địa địch vọt lên chùm pháo sáng đỏ lừ. Người vừa đứng là Sơn. Trông Sơn như một bức tượng nham nhở được tạc từ bóng đêm đen ngòm, bởi thứ sánh sáng vàng vọt đáng sợ. Từ bức tượng người phát ra chùm âm thanh khô lạnh ngắn gọn: “Tôi xin chết!”. Lúc ấy Sơn là tân binh mới bổ sung và chưa phải là đoàn viên. Những người lính lặng lẽ bước qua trước bức tượng người. Hoán đi sau cùng đoàn quân. Lắc lắc tay Sơn. Hoán định nói một câu gì đó nhưng không thể diễn đạt. Sơn nói thật khẽ: “Đừng anh ạ. Đừng dùng quyền lực bắt con người phải tự nguyện chết. Cái chết giản đơn lắm. Nó không cần sự nhân danh mà chỉ cần sự tự nguyện đích thực. Thôi anh đi đi. Vĩnh biệt”.

Những tiếng súng nổ chát chúa từ trận địa của Sơn dội lại làm nhức nhối tim Hoán. Đơn vị đã rút lui an toàn “Cái chết cần sự tự nguyện địch thực!” – Lời trăng trối của Sơn như tiếng sét xoẹt qua đầu Hoán. Hoán chạy bổ trở lại trận địa. Suốt đêm ấy, trong bóng tối dày đặc, Hoán lần mò cõng được xác Sơn bê bết bùn máu về đơn vị. Chiến tranh vẫn xảy ra điều kỳ diệu. Một trạm phẫu thuật dã chiến đã cứu được Sơn. Họ tồn tại bên nhau cho đến khi cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam kết thúc. Từ ấy đến nay…

*

*     *

Cuộc tàn sát nhân đạo nhất là cuộc tàn sát xảy ra trên bàn tiệc. Chỉ có hai người. Sơn bảo: “Em sơ tán mấy mẹ con về ngoại để mình tiện tâm sự. Vợ em mừng lắm. Ơn cứu mạng năm xưa em vẫn thường nhắc. Gặp anh, cô ấy nhận ra ngay.”. Hoán lạ lùng nhìn mâm cơm chỉ có mỗi con gì trắng ợt, trông như một con mực khổng lồ bốc khói nghi ngút. Chủ nhà rót rượu tràn hai cốc lớn, rồi cầm con dao rạch nó thành nhiều mảnh. Những cái vòi lua tua bị luộc chín quắn lại khiến Hoán rùng mình. Thoang thoảng mùi tanh tưởi của biển cả. Hoán nhăn mũi. Sơn cười ha hả: “Bạch tuộc đấy! Loài quỷ này dữ dằn và hết sức độc ác dưới biển. Nhưng đã lên mâm thì thiện, ác cũng như nhau hết, đều ngoan ngoãn, phục tùng. Giống này ăn được thì ngon lạ lùng. Nào ta nâng cốc mừng gặp lại.”.

Lòng rưng rưng chẳng biết Hoán mừng vui hay buồn tủi vì cuộc tái ngộ này nữa, Hoán kể hết với Sơn mọi tình tiết của quãng đời sau chiến trận. Hết Hoán rồi đến Sơn. Cả hai kiên nhẫn kể, kiên nhẫn nghe, kiên nhẫn uống từng chén rượu. Rượu tưới thẫm đẫm bầu không khí dồn ép của mạch chảy ký ức thời gian. Rượu đắng và lòng người cũng đắng. Mâm rượu cạn dần và tâm sự cũng vơi đi. Chỉ có nỗi buồn đọng lại, lớn dần lên. Chao ôi con người. Chao ôi cuộc đời. Sự sống thật nghiệt ngã. Hoán đã đành. Sự phản bội của vợ là cái cớ cụ thể, để Hoán căm thù, để Hoán quên lãng. Nhưng với Sơn? Sơn có tội tình gì. Những vết thương của trận chiến hôm nào vừa mới kịp lành miệng.

*

*     *

Em phục viên vào đầu năm tám mươi. Có tấm thẻ thương binh em dễ dàng xin được việc làm. Một chân bảo vệ làng nhàng ở một kho cảng làng nhàng. Rồi em lấy vợ. Cuộc đời thế là yên. Anh bảo còn mong muốn gì hơn nữa. Chiến tranh đã cướp đi của em non nửa sức lực trai tráng. Nửa sức lực còn lại đủ để em dập tắt những ước mơ cao vọng, để tự khuôn mình vào một cuộc sống thực tế, cho dù thực tế ấy là một cuộc sống đầy thua thiệt. Cái hôm đến nhận công tác mọi người lạ lẫm nhìn em. Một thằng người gầy khoẻo. Nó mặc một bộ đồ lính – lạ chưa kìa – chiến tranh đã hết từ lâu. Thương binh à, sao huy hiệu lại sơn đỏ thế? Mọi người cùng “à” lên một tiếng. Em không hiểu. Càng không hiểu sao bọn họ béo tốt đến thế. Từ trưởng kho đến nhân viên xép đều núc ních, da nhầy nhầy mỡ. Em rút bao Sông Cầu mới mua, dành cho buổi tiếp kiến, lúng túng bóc mời họ. Lại một tràng cười đồng loạt. Tay tổ trưởng bảo vệ vỗ vai em thân mật: “Cất đi chú. Ở đây không ai hút loại này đâu”. Tay kia hắn rút ra bao ba số còn nguyên vẹn: “Cầm lấy mời anh em.”. Anh biết  đấy, em có nghiện hút gì đâu. Thấy em lắc đầu, hắn bảo: “Cứ cầm. Chưa quen rồi sẽ quen. Đừng tự tách mình. Phải có ý thức tập thể. Chủ nghĩa xã hội đó chính là sức mạnh tập thể.”. Rồi hắn bóc thuốc mời mọi người. Em bắt gặp những ánh mắt kẻ cả. Hôm sau đúng vào ngày phát tiền. Vẫn tay tổ trưởng đưa cho em một nắm. Em bảo: “Tôi mới làm có một ngày”. Hắn cười: “Thì cầm lộc một ngày”. Đoạn hắn chép miệng nhìn em từ chân tới đầu: “Thằng em rồi sẽ khá lên.”. Em không hiểu. Trời ơi giá mà em hiểu thì sẽ đi ngay từ lúc ấy. Đi ngay thì đời em đâu đến nỗi. Cũng chẳng mất nhiều thời gian, em không biết cái tập thể ấy vì sao có sức mạnh. Có điều em vẫn không hiểu ngần ấy con người sao chẳng tìm thấy nổi một khuôn mặt tử tế. Mãi sau này em mới vỡ nhẽ. Quyền lực của đồng tiền ghê gớm thật. Nó không chỉ làm băng hoại linh hồn mà còn làm méo mó, biến dạng hình thể con người. Rồi điều gì sẽ đến, phải đến. Một hôm vào phiên em trực. Lúc ấy đã gần hết giờ. Kho vắng lặng. Chỉ còn mỗi chiếc xe tải ì ạch chở đầy hàng tiến ra phía cổng bảo vệ. Chắc là hàng quan trọng nên thấy cả nhân viên kho ra cùng. Em kiểm tra vận  đơn và đối chiếu hàng xuất. Bắt gặp ánh mắt bực tức của lái xe, em mang máng có điều gì ẩn khuất. Thấy thủ kho khoát khoát tay, lòng tự ái trong em trỗi dậy. Đã thế em kiểm tra thật kỹ. Cuối cùng em phát hiện có đến gần chục kiện hàng dôi ra ngoài vận đơn. Em đã nhã nhặn mời lái xe vào phòng bảo vệ. Nào ngờ thằng cha còn rất trẻ ấy không những không sợ hãi mà còn văng một câu tởm lợm: “Mẹ… chúng mày ăn dày quá, gặm đến tận cả dây khố. Có còn để chúng tao kiếm mảnh xương, hột cháo hay không?”. Đoạn hắn tháo chiếc đồng hồ Nhật sáng loáng vứt vào tay em rồi nhảy lên ca bin nổ máy. Trắng trợn quá. Em cố kìm nén để khỏi quăng chiếc đồng hồ vào giữa bộ mặt bẩn thỉu ấy. Em quát vào mặt hắn: “Xuống xe!”. Tay thủ kho mặt nhợt nhạt như giấy bản chạy đến trước mặt em, miệng lắp bắp gì đấy. Tiếng ồn ào rộ lên. Em kiên quyết lập biên bản, giữ hàng. Nhưng phải đến mấy đêm liền em mất ngủ vì sự việc xảy ra sau đó. Chiếc xe vẹn nguyên hàng hóa vẫn dũng cảm bò được qua ba – ri – e của em. Chiếc đồng hồ đáng nhẽ phải ở cổ  tay em lại không cánh bay sang tay của phụ trách bảo vệ kho. Thì ra tất cả chúng nó đều nằm trong một băng chuyền. Cái băng chuyền khốn nạn bòn rút của cải từ những cái kho vô tận. Chúng no đủ là phải.

Tiếp theo nhiều lần khác nữa, nhưng không một lần nào em đạt kết quả. Liên tiếp em nhận được những lời khuyên nhủ thậm chí xa xôi, dọa nạt của đồng nghiệp. Thú thật, cũng có lúc em hoang mang, nghĩ đến cảnh nghèo khổ của mình, nghĩ đến những gì mình đã để lại ở chiến trường. Tội gì mà đơn độc. Tội gì mà không kiếm chác. Của chung cả, có cá nhân ai mất mát gì. Chúng nó đấy, có đứa nào mất đi đâu một giọt máu mà chúng vẫn nhởn nhơ, sung sướng, vẫn nhân danh này, nhân danh nọ. Thậm chí có lần tay trưởng kho còn bảo thẳng vào mặt em: “Cậu là con người tốt đấy. Nhưng cậu thử nghĩ xem, cái tốt phải biết dùng đúng hoàn cảnh. Nếu không nó sẽ trở thành con dao hai lưỡi.”. Nhâng nháo hơn y bảo: “Mình đã đề nghị chi bộ xem xét trường hợp của cậu.”. Lúc ấy tự nhiên em nghĩ đến những người của trung đội mình đã nằm xuống ở thịt trấn đường biên năm nào. Từng khuôn mặt đồng đội còn in đậm trong em. Nhục nhã quá, em muốn hét to lên mà cổ họng cứ tắc nghẹn. Đảng nào dung thứ sự nhân danh của chúng mày. Đảng gì lũ chúng mày, bọn sâu mọt. Tĩnh trí, em biết có phản ứng bọn người này cũng chẳng ích gì. Khôn ngoan hơn, em lần từng đầu mối và thu thập bằng cớ. Em quyết định bằng mọi giá phải phanh phui ổ chuột ghê tởm này. Em viết một lá đơn dài, liệt kê cặn kẽ mọi chi tiết rồi lên gặp trưởng ban thanh tra Cảng. Ông trưởng ban tiếp đơn của em. Ông đọc kỹ. Trời lạnh mà trán ông vã mồ hôi. Ông ngồi thừ rất lâu. Sốt ruột quá em giục: “Thế nào bác?”. Ông bảo: “Tôi biết cả. Xin cảm ơn đồng chí!”. Có tiếng chân người, mắt ông dớn dác nhìn ra cửa, rồi ông đút nhanh tờ đơn của em vào ngăn bàn. Thất vọng, em xin lại đơn. Ông già ấy, nhìn người em biết chắc là người tốt. Cũng như ở đơn vị kho của em, không phải ai cũng hỏng hết. Nhưng có lẽ vì họ quá sợ hãi vòng kiểm tỏa của một thế lực vô hình nào đấy, hoặc vì cuộc sống, miếng cơm, manh áo đành phải nhắm mắt chấp nhận. Em trực tiếp xin gặp lãnh đạo Cảng. Một vị to béo trong ban giám đốc tiếp em đúng tinh thần dân chủ và cởi mở. Khác với thái độ cẩn trọng của ông thanh tra, vị lãnh đạo Cảng hồ hởi. Lắc mạnh vai em: “Cậu khá lắm, đã đổ xương máu ở chiến trường, về đây vẫn phát huy truyền thống. Khá lắm!”. Em biết đâu rằng bước ngoặt của đời em lại được quyết định ngay trong ngày hôm ấy.

Buổi chiều, khi em đạp xe gần về đến nhà, một bọn người lạ hoắc xông vào đấm đá em túi bụi. Vừa đánh chúng vừa chửi: “Đơn này. Đơn này. Cho mày đội đơn xuống âm ty mà kiện. Kiện cụ khoai. Khôn ăn cái… dại ăn cứt! Rõ là đồ kiến!”. Chúng đánh cho đến khi em ngất xỉu. Trận đòn thù ấy phải đến hai tháng trời điều trị trong bệnh viện em mới biết mình còn sống. Ra viện, em về kho. Những bộ mặt ghẻ lạnh. Trưởng kho bảo: “Chúc mừng cậu đã yên ổn. Có điều sức khỏe cậu yếu quá, không kham nổi công việc!”. Hắn ta đưa em tờ quyết định do chính vị giám đốc gặp em ký. Quyết định chuyển trả em về Sở thương binh xã hội để bố trí công việc phù hợp với cống hiến sức khỏe. Đất sụt lở dưới chân em. Mắt em hoa lên. Làn đạn ác liệt bắn trúng tim. Trong khoảnh khắc em chợt hiểu tất cả. Trời ơi, sao con người lại tàn nhẫn thế này. Em có đòi hỏi gì cao sang đâu. Chỉ muốn được sống tử tế, làm người tử tế vậy mà không được sống. Chúng nó không cho sống. Lúc ấy giá em có một khẩu súng thì nửa sức còn lại của đời em sẽ ý nghĩa biết bao nhiêu. Người em run lên bần bật. Run không phải vì sợ hãi. Còn gì nữa đâu mà sợ hãi. Bọn đê tiện ấy đã đẩy em đến giới hại cuối cùng. Em ngước nhìn trời cao. Mây lang thang và mặt trời lắc lơ, vòi vọi. Khoảnh khắc ấy, em cảm nhận đầy đủ sự bất lực. Tất cả thế là hết. Lúc ấy giá như em cứ chuyển về Sở thương binh xã hội có lẽ cũng chẳng sao. Nhưng còn bọn người này và trận đòn thù. Em chỉ là một người bình thường làm sao có thể lớn vượt được tầm của bản thân mình. Thù hận với em, lúc ấy lẽ tất phải có. Em xé tan nát tờ quyết định và nhổ vào giữa mặt bọn chúng: “Chúng mày hãy nhớ lấy. Rồi chúng mày sẽ phải trả giá. Trả giá bằng chính cái chúng mày thèm khát.”. Em về nhà bảo vợ: “Anh phải đi tù vài năm”. Vợ em thảng thốt: “Anh định giết người?”. Lúc ấy vợ em sắp sinh cháu đầu. Em bảo: “Giết chúng là hóa kiếp cho chúng. Sao dễ thế. Chúng nó thèm tiền, giết chúng bằng tiền!”. Vợ em sụp xuống: “Vậy là anh ăn cướp?”. Em lắc: “Sạch sẽ hơn ăn cướp. Có điều phải nhẫn nhục!”. Vợ em thốt thêm được mỗi câu: “Anh điên mất rồi.”. Rồi ngửa mặt lên trời cười sằng sặc. Cười rợn lắm, kinh khủng vô cùng. Em nhảy bổ, tát mạnh vào mặt cô ấy. Tát thật đau, tội nghiệp quá. Nhưng biết làm sao, đành phải lấy đau đớn này để chế ngự đau đơn khác. Cuối cùng cô ấy cũng dứt được cơn cười và bật khóc. Nước mắt là thứ thuốc linh nghiệm nhất dành cho đau khổ tột cùng.

Em tổ chức một dây vượt biên. Giả vờ thế thôi để kiếm tiền. Thu gom được một số vàng, em chôn cất phần lớn, đưa vợ một ít để vợ sinh nở và nuôi con. Xong xuôi cả, em tìm cách báo công an. Ngay lập tức em bị bắt. Lúc ấy tội vượt biên lớn lắm. Tòa xét xử vẫn luận công để trừ tội. Cái mác thương binh giúp em chỉ phải lĩnh có ba năm tù. Thời gian trôi vèo. Mãn hạn, em đào số vàng chôn khi trước lấy làm vốn. Cái đích vạch ra đã thực hiện được phần nửa, em lao vào cuộc sinh tử quyết liệt với đồng tiền. Ý nghĩ trả thù ngày đêm nung nấu. Em phất rất nhanh. Giàu có chỉ là một nhẽ. Cái chính là phải tạo thanh danh. Em không tiếc tiền để lao vào những phi vụ hiểm nhất. Càng không tiếc tiền để gây dựng thế lực – vẫn biết đó là thứ thế lực nhơ nhuốc nhất. Lúc bấy giờ, thành phố này động trời là thằng Sơn ngông nghênh. Càng lao sâu vào tội lỗi, cuộc đời càng đáng buồn anh ạ. Buồn vì mình nhơ nhuốc quá, vẫn có không ít kẻ trọng vọng, ngưỡng mộ. Buồn vì con người luôn thù hận, chém giết lẫn nhau, chỉ để giành lấy những điều vô nghĩa. Em chỉ kể anh chuyện trả thù tay trưởng kho cũ. Lúc em đã giàu có và tiếng tăm thì tay ấy đã ngoi lên vị trí lãnh đạo Cảng. Một buổi sáng em sộc vào phòng làm việc của hắn. Có lẽ hắn nhận ra em ngay, song vẫn giả tảng như không biết. Em nói luôn: “Tôi đến để cảm ơn ông.”. Hắn lúng túng: “Tôi không biết anh là ai.”. Máu em bắt đầu sủi: “Vậy thì để tôi nhắc lại. Tôi là cái thằng các ông đánh đến hộc máu. Đã bị các ông xua đuổi đến nỗi phải vào tù. Nhưng tôi cám ơn ông vì sự đểu cáng ấy đã thúc đẩy tôi giàu có.”. Mắt hắn dại đi: “Anh Sơn. Đừng nhắc đến chuyện cũ làm gì. Chúng ta ai cũng đều trải qua cái thời ấu trĩ.”. Em hét lên: “Câm ngay! Mày đã biết thằng Sơn này thì hãy nghe cho rõ.”. Em vứt ra bàn một gói tiền: “Đây là thứ mày thèm khát. Tiền đấy. Cái tiên đề cuộc sống của chúng mày. Có nó, chúng mày tạo dựng nhà cửa, vây cánh, quyền lực, lạc thú… tất cả. Vì nó mày vùi dập cuộc sống của bao người lương thiện, trong đó có tao. Cầm lấy. Đấy là cái giá tao trả mày. Hãy đếm cho kỹ và cút ngay khỏi thành phố này. Tao không muốn nhìn thấy bộ mặt bẩn thỉu của mày.”. Em ngồi đấy hả hê nhìn nó đếm tiền. Nó cút ngay anh ạ. Những kẻ tạo dựng mọi thứ trên sức mạnh đồng tiền ấy, biết rất rõ luật đời, nó sòng phẳng nhận giá.

*

*     *

Hoán nén tiếng thở dài. Mâm rượu đã cạn. Chỉ còn lại những mẩu thịt tơi tả nằm lẫn với đám rau gia vị xơ xác gây cho Hoán cảm giác hết sức khó chịu. Giá Hoán đừng gặp Sơn. Phải chi Hoán đừng run rủi đến quán ăn ấy thì đâu đến nỗi phải khó nhọc ngồi đây. Những lời tâm sự như lưỡi dao vạch vào ruột gan Hoán. Tàn nhẫn quá. Hoán như tên tội phạm nhẫn nhục cúi đầu trước tòa. Kỳ lạ, Sơn có là quan tòa đâu, Sơn cũng là tội phạm đấy chứ. Gánh nặng của đời chất lên đôi vai mỏi mệt của Hoán đã quá đủ, giờ đây Sơn ơi, mày lại chất thêm lên đấy những gì nữa? Hoán kiệt lực mất rồi. Dường như Sơn nhận thấy sự thảng thốt tuyệt vọng của Hoán. “À. Còn điều này nữa anh ạ. Chắc anh không tin. Bao nhiêu năm nay mặc dù có nhiều tiền, vợ chồng em sống nhọc nhằn lắm, vất vả lắm. Mọi thứ phù phiếm, những đồng tiền vô nghĩa, cả cơ nghiệp bề thế này nữa, tất cả chỉ là tấm bình phong để em tồn tại. Tồn tại mà như là không tồn tại. Cái đắc thắng thỏa mãn của kẻ trả được thù riêng sao bằng nỗi dằn vặt đau đớn của người bị buộc phải sống trái với đạo lý. Làm người ai không muốn mình thênh thang cõi lòng. Nhưng đời đã vậy, cưỡng làm sao. Đôi lúc tuyệt vọng, em muốn tung hê tất cả, cùng vợ con chạy về một vùng quê hẻo lánh nào đấy để yên ổn nương thân. Nhưng như thế nghĩa là phó mặc đời. Hèn hạ quá, chẳng tội gì phải thế. Vẫn biết mình sống thừa, dù sao em cũng vẫn bớt được cho đời vài ba kẻ ác, như cái bọn ở kho cũ của em. Nhưng mà chua chát lắm. Có lần một vị chức sắc trong phường đi cùng một bà hảo tâm, đến em quyên tiền tu bổ cho một cái đền chùa gì đấy mới được công nhận, xếp hạng. Cái người hảo tâm ấy là một tín đồ sùng bái vào thần thánh, ăn chay, niệm Phật suốt tháng, nhưng ở ngoài đời là một kẻ buôn bán lừa lọc nhất, đê tiện nhất. Bà ta bảo: “Xin chú hảo tâm đóng góp.”. Em cười nhạt: “Tiền tôi không thiếu. Nhưng đền chùa là chốn linh thiêng, lấy làm gì những đồng tiền nhơ nhuốc.”. Bà  ta bảo: “Chú cứ vẽ, tiền nào chả là tiền. Cốt là ở cái tâm.”. Em nói: “Có tâm tức là không có tiền. Người có tâm ăn chả đủ. Còn hảo tâm là đổi tâm lấy tiền.”. Mặt bà ta đỏ lên: “Sốt ruột quá, chú không góp thì để tôi đi.”. Em bảo: “Bà quyên tâm thì để cả nhà tôi đến lao công, quét tước đền miếu. Bà quyên tiền thì đây. Nhưng tôi nói rồi đấy. Nhơ nhuốc lắm.”. Lần ấy mình em góp bằng cả chợ cộp lại. Chuyệt vặt, em quên ngay. Nào ngờ một lần đi qua em thấy tên mình được khắc nhũ vàng trên biển treo cửa đền nọ. Trời ơi, vì những đồng tiền nhơ nhuốc mà tên tuổi được ghi danh. Đời là thế, không đau làm sao được. Nhưng cũng còn niềm an ủi là mình không giống chúng nó. Đau đấy, nhưng là cái đau vượt tầm cầm thú. Nỗi đau âm ỉ như ngọn dùi đỏ xuyên qua ngày tháng. Thời gian trôi, cứ mỗi ngày qua đi lại tích cóp thêm một chút ít niềm hy vọng. Cái hy vọng mỏng manh nhưng chứa đựng trong nó một niềm tin có thật. Tin chứ. Thật bất hạnh nếu như chỉ có một khắc một giờ, làm rơi vuột mất lòng tin. Sống cho ai, vì ai? Cứ mỗi sáng vào lúc mặt trời chưa thức dậy, em lại lang thang. Ban mai thật tinh khiết, đến ngọn gió cũng trong lành. Bao nhiêu lầm lỗi, bao nhiêu tủi hờn, bao nhiêu xảo trá, mưu mô đều đã cất lại trong đêm dài thăm thẳm. Lúc ấy, vào khoảnh khắc đầu tiên, nếu em chợt gặp ánh mắt khinh bỉ của một người nào đó thì đấy là lời phán xét: Niềm tin có thật. Đối với em đó là một ngày đáng sống. Đáng sống chứ. Chừng nào con người biết khinh bỉ thì còn được quyền sống tử tế. Khinh bỉ phần nào, vợi đi khổ đau, nhục nhã phần ấy. Cũng may là em luôn gặp những cái nhìn ấy. Những cái nhìn cứu cánh để em đợi chờ. Chờ gì ư? Đó chính là niềm tin ấy. Giông bão rồi sẽ qua đi và nếu em không còn đủ sức lực để chờ đợi thì con cháu em, chúng nó sẽ được thấy, chúng sẽ được sống, có quyền được sống!”.

Hoán lảo đảo đứng dậy. Con bạch buộc bị nghiền nát trong dạ dày Hoán chợt quẫy mạnh. Những cái vòi lua tua, quờ quạng. Nó đi tìm lại sự sống. Từ miệng Hoán một cái vòi kinh khủng khiếp phọt ra. Hoán gục xuống mâm. Hoán vẫn kịp nhận thấy Sơn đứng lòng khỏng, bất động. Trông Sơn như một bức tượng người…

*

*    *

Vào một đêm mùa đông rét mướt. Trời sùi sụt. Vợ chồng Sơn đèo Hoán bằng xe máy ra bờ biển. Lọ mọ một lúc trong đêm đen đặc quánh, họ đến được nơi con thuyền đang neo đợi. Sơn bảo: “Biển động có nguy hiểm, nhưng chắc thoát lọt.”. Hoán lùi lũi bước. Đây rồi con thuyền đen ngòm ngòm đang dềnh lên, dạt xuống, vật vã trên sóng. Gió rít hay là biển rít mà không trung toác bởi thứ âm thanh quái gở roèn roẹt như có trộn thêm mạt sắt. Đến sát mép nước, Hoán dừng lại. Sóng táp ào lên người Hoán. Vợ chồng Sơn bỗng quỳ thụp xuống: “Em lạy anh. Có mấy vái gọi là… Chúng em lễ sống anh trước lúc ra đi. Anh có mệnh hệ gì, đừng trách thằng Sơn này đẩy anh vào chỗ chết.”. Hoán từ từ quay mặt ra biển rồi lại từ từ hướng trở lại đất liền. Khoảnh khắc. Trời tối quá. Đêm mông lung không biến bờ giới hạn. Sao Hoán lại gặp Sơn nhỉ? Có định mệnh đâu. Trời ơi Sơn, con người bị tước đoạt hết mọi thứ ấy, sao vẫn sống để bấu víu vào một cái gì đó Hoán không thể biết. Niềm tin ư? Nó là cái gì? Nó nhân danh cái gì mà phán xét Hoán dữ dội vậy, Hiện tại Hoán có tiền, nhiều là đằng khác. Thậm chí nếu cần Hoán vẫn có thể giành giật lại được người vợ cũ hoặc chiếm đoạt một người vợ mới. Vậy mà sao Hoán vẫn đơn độc, vẫn chui lủi, lang thang? Sao Hoán như con thuyền không có bến bờ neo cắm? Sơn nói có đúng không? Nếu đúng thì sự thật quá ư tàn nhẫn: “Anh là kẻ cùng đường rồi. Tuyệt vọng, đúng thế. Cái chết cần sự can đảm. Ngay cả cái dấu chấm giản đơn nhất đời ấy cũng không thể dành cho những kẻ hèn nhát. Đừng băn khoăn nữa. Cũng đừng hỏi vì sao. Anh không thể tìm được câu trả lời. Không có cách nào khác. Anh đi đi. Ơn cứu mạng năm xưa em xin trả. Em sẽ lo cho anh vượt biển được chu toàn. Anh phải đi. Mảnh đất chật hẹp nghèo khó này, dẫu còn nhiều đau thương, dẫu chưa đủ cả lẽ công bằng, dẫu phải chấp chứa cả những loại người sâu mọt nhất, nhưng sẽ không bao giờ, không bao giờ có chỗ cho loại người hèn nhát. Những kẻ không dám sống, không dám tin, không định nổi hướng đi cho mình. Hèn nhát tự huỷ hoại. Huỷ hoại bản thân. Huỷ hoại cuộc đời. Đi đi cho đất đai này được thanh thản.”.

Khoảnh khắc. Hoán đăm đắm nhìn về phía vợ chồng Sơn vừa mất hút. Biển bỗng lặng. Gió bỗng im. Xa lắc phía chân trời đen kịt chợt hiện một vầng sáng mỏng manh yếu ớt. Phía ấy là thành phố. Xa nữa có một làng quê. Một bà mẹ. Vầng sáng chung chiêng, thoi thóp, thoi thóp như ngọn nến trên bàn thờ sắp tắt, như khuôn mặt già nua, tóp teo của mẹ. Mẹ ơi! – Đấy là những cảm nhận cuối cùng của Hoán về Tổ quốc. Hoán xoay người lại. Biển đen kịt. Gió lại gào xé từng đợt, từng đợt. Con thuyền lắc lư, lắc lư trên những cuộn sóng vật vã. Sóng dềnh lên, con thuyền ngòm ngòm như một ngôi mộ nổi, hé cửa mời Hoán vào, Hoán lạnh buốt người.

May mắn và bất hạnh thay cho con người có những khoảnh khắc để lựa chọn. Với Hoán đây là khoảnh khắc cuối cùng. Khoảnh khắc quyết định.

Advertisements

Entry filed under: Truyện ngắn.

Chạy trốn Hõm nước cây si

27 phản hồi Add your own

  • 1. vanh  |  Tháng Tám 9, 2009 lúc 6:30 chiều

    ua, tem, tem, tem….

    Phản hồi
    • 2. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 9, 2009 lúc 9:06 chiều

      ua…

      Phản hồi
    • 3. van  |  Tháng Tám 10, 2009 lúc 11:06 sáng

      Em biết bác “ủa” cái gì rồi! Nó cả thôi mà!

      Phản hồi
      • 4. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 10, 2009 lúc 11:24 sáng

        Ừa…

        Phản hồi
  • 5. david tran  |  Tháng Tám 10, 2009 lúc 10:52 sáng

    Câu chuyện hấp dẫn quá .không biết Hoán có đến được
    Bến bờ tự do ?

    Phản hồi
  • 6. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 10, 2009 lúc 11:03 sáng

    Còn một truyện ngắn ” Hõm nước cây si” kế tiếp nữa mà. Nhưng tôi nghĩ cho Hoán đi không phải là giải pháp tốt. Truyện viết đã 20 năm rồi. Tận bây giờ tôi vẫn nghĩ thế.

    Phản hồi
  • 7. BB  |  Tháng Tám 10, 2009 lúc 2:26 chiều

    Cám ơn chú! Cháu hồi hộp theo dõi anh Hoán của chú lắm đấy ! Chúc chú khoẻ và viết lúc nào cũng hay!

    Phản hồi
  • 8. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 10, 2009 lúc 3:29 chiều

    Thay mặt chú của 20 năm trước cảm ơn cháu.

    Phản hồi
  • 9. Small  |  Tháng Tám 11, 2009 lúc 8:43 chiều

    Khi nào có phần tiếp theo về anh Hoán chú ơi? mà chú nè, chú cắt ra từng phần nhỏ cho dể đọc hơn chú à! thay vì post cả truyện dài 1 lần thì chú cắt thành 3 phần post 3 lần, hihi…như vậy vừa tiết kiệm được vốn liếng vừa chi tiêu từ từ, kéo dài thời gian ra. Hồi hộp đợi phần tiếp theo nè. Mong cho Hoán được bình an!

    Phản hồi
    • 10. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 11, 2009 lúc 10:18 chiều

      Đã từng cắt nhiều phần nhỏ nhưng bị phản đối nên thôi, cứ post dài 1 lần ai tiện thì đọc một thể. Vốn liếng tất nhiên ko giầu có gì nhưng chắc cũng đủ dùng được ít thờii gian nữa cho đến khi chán blog. Yên tâm về Hoán, chú ăn về hậu vận nên cũng để nhân vật của mình có…hậu. Khe…khe…

      Phản hồi
  • 11. tepbo09  |  Tháng Tám 12, 2009 lúc 10:27 sáng

    Nhân vật Hoán sau này trở về sẽ trở thành “việt kiều yêu nước” phải không bác?

    Phản hồi
  • 12. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 12, 2009 lúc 10:36 sáng

    Cũng là một hướng. Tui còn ngồi đây thì đời nào Hoán đi. Một phần của tui mà. Tối nay tôi post nốt.

    Phản hồi
  • 13. van  |  Tháng Tám 12, 2009 lúc 11:00 sáng

    Đừng, đừng post hết anh Tiến ơi! Để mèo này hồi hộp ý!

    Phản hồi
  • 14. van  |  Tháng Tám 12, 2009 lúc 11:00 sáng

    tý!

    Phản hồi
  • 16. van  |  Tháng Tám 12, 2009 lúc 1:48 chiều

    Mèo “vằn” bác ạ, cũng họ meo meo cả.

    Phản hồi
  • 17. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 12, 2009 lúc 1:54 chiều

    Mèo vằn là hổ chứ. Tóm lại là mèo hay hổ cũng vậy cả. Đều là loài ăn thịt hay gầm gào, vả, cắn, xé…Hãi!

    Phản hồi
  • 18. van  |  Tháng Tám 12, 2009 lúc 1:57 chiều

    No, Mèo thật mà. Tính gia nhập chuồng Mèo Bự nhưng chưa biết làm đơn thế nào.

    Phản hồi
  • 19. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 12, 2009 lúc 2:21 chiều

    Vậy hả? Lại còn Mèo Bự nữa. Mèo ơi là mèo.

    Phản hồi
  • 20. Meogia  |  Tháng Tám 12, 2009 lúc 3:25 chiều

    Meogia nghe hợp lý hơn, khekhekhe.

    Phản hồi
  • 21. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 12, 2009 lúc 3:36 chiều

    Lạy mèo. Khe…khe…

    Phản hồi
  • 22. Meogia  |  Tháng Tám 12, 2009 lúc 3:53 chiều

    meogia bắt lỗi nhà văn này: “chuếnh choáng” mới đúng tiếng Dziệc, không phải “chuếch choáng” thì phải.

    Phản hồi
  • 23. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 12, 2009 lúc 3:55 chiều

    Lỗi morat. Nhận. Khe…khe…

    Phản hồi
  • 24. Meocon  |  Tháng Tám 15, 2009 lúc 10:18 chiều

    Khoanh khac nao ma cha co y nghia bac Tien nhi, he he

    Phản hồi
  • 26. Hồng Chương  |  Tháng Chín 18, 2009 lúc 10:56 chiều

    Tôi đã đọc truyện Chạy trốn rồi. Truyện nào cũng hay, nhưng tôi thích truyện này hơn. Có lẽ tại tôi thích nghe những triết lý như trong truyện này.
    Đoạn anh tả Sơn “Tôi xin chết” rất ấn tượng.

    Phản hồi
  • 27. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Chín 18, 2009 lúc 11:11 chiều

    Chùm 3 tuyện ngắn liiên hoàn: Chạy trốn-Khoảnh khắc-Hõm nước cây si, dạo in báo thì nhà văn Nguyễn Khắc Trường lúc đó là biên tập của tạp chí Văn nghệ quân đội chê nhất Khoảnh khắc. Ông ấy vẫn in (1990) nhưng phán thế này: Xác còn nhưng hồn mất. Tui nghe theo ông ấy suýt bỏ nó đi khi in thành sách. Giờ HC còm thế này khiến tui hoang mang. Nhưng mà vui. Cảm ơn!

    Phản hồi

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Tháng Tám 2009
H B T N S B C
« Th7   Th9 »
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
31  

CHÀO KHÁCH

free counters

%d bloggers like this: