Hõm nước cây si

Tháng Tám 12, 2009 at 3:47 chiều 46 comments

Chùm 3 truyện ngắn Chạy trốn, Khoảnh khắc, Hõm nước cây si, tuy có cùng một nhân vật Hoán nhưng thực ra là những truyện ngắn độc lập. Khi in ra cách đây 20 năm, số phận của chúng cũng khác nhau. Mãi sau này tác giả mới tập hợp lại chúng trong cùng một tập truyện. Cảm ơn những ai đã quan tâm!

Cây si bến nước thường là nơi sản sinh ra những huyền thoại. Ở bến sông làng Kiện, dưới gốc cây si già đại thụ có ông lão sống một cuộc đời thực còn lạ kỳ hơn cả huyền thoại. Ấy là ông lão Miến. Tóc trắng như cước, đã ngoại bảy mươi cơ bắp vẫn săn như gân si. Quanh năm suốt tháng, trời hè nóng nực hay tiết đông căm căm, trên người ông lão chỉ bận mỗi bộ quần áo màu đen phênh phếch đầy dầu dãi và tang tóc. Suốt bốn mươi năm nay, ông lấy gốc si làm nhà. Ông sống cách biệt với mọi người. Không làng xóm, họ hàng, bất chấp mọi biến cố. Ông lão khoanh mình trong một vương quốc riêng biệt chỉ có túp lều dưới gốc si già và hõm sông xoáy suốt bốn mùa mang màu nước ngầu ngầu đục đỏ. Hõm sâu ấy có cái tên gọi kỳ cục là Hõm Ma Tươi.

Dân làng Kiện chẳng ai có thể xâm nhập vào nổi vương quốc của ông, ngoại trừ những lần tiếp xúc với ông qua cái bễ lò rèn. Nghề rèn là nguồn sinh nhai thường nhật của ông lão. Suốt bốn mươi năm nay, dân làng Kiện lớp này, lớp khác, trong bất kể một cuộc vui hoặc buồn, người ta phễu phão đủ mọi thứ chuyện về ông. Ông sống một mình cô độc như cây si cô độc ở bến sông. Ngần ấy thời gian đằng đẵng, ông sống âm thầm, thậm chí chẳng hé răng nói với ai lấy một lời. Mọi giao tiếp của ông với xung quanh, ngoài cặp mắt còn tinh anh nhưng hết sức lạnh lẽo là cái bảng giá được gắn cố định trên thân cây si đề rõ giá cả từng hạng mục công việc của nghề rèn. Ngay đến giá cả cũng hết sức kỳ cục. Nó được giữ nguyên chỉ thay đổi sau những lần đổi tiền của nhà nước và rẻ đến độ bèo bọt. Người làng Kiện trừ máy móc hoặc dụng cụ tinh xảo, còn thì đồ sắt thủ công đều phải nhờ vả qua tay búa và bễ của ông. Ông lão Miến như một thứ nhân công rẻ mạt nhất của hợp tác làng Kiện. Ông cũng chỉ làm cho người làng. Lớp người làng sau này đều nhất loạt bảo ông là một gã cuồng nhân lẩn thẩn. Có người bảo: “Ông ấy làm mà không cần tiền, hẳn kiếp trước phải è lưng trả nợ. Âu cũng là luật công bằng của tạo hóa.”. Chỉ còn những người cùng trang với ông lão Miến là hiểu phần nào. Số ấy bây giờ cũng đã rơi rụng về với thiên cổ gần hết, chỉ còn lại rất ít đủ đếm trên đầu ngón tay. Có ái ngại họ cũng chỉ còn biết chép miệng ngẫm ngợi: “Thôi thôi, cũng một kiếp người…”.

Rất nhiều chuyện được thêu dệt xung quanh cuộc sống quái dị của ông lão Miến. Nhiều người kể rằng, cứ tối tối sau một ngày làm việc cật lực, ông lại trầm mình xuống Hõm Ma Tươi, mò mẫm, tìm kiếm cái gì đấy rất lâu. Sau đó ông ngồi khấn cũng rất lâu trong lều. Có người tò mò cất công rình ngóng, quả quyết rằng: Ông ấy cầu khẩn các hồn ma vì ông ấy chết oan khuất. Còn nhiều chuyện khác nữa. Thế nhưng dân làng Kiện không lấy đó làm lạ. Cái gì trái lẽ, lâu dần cũng thành quen. Ngay cả đến bọn trẻ cũng dửng dưng trước sự tồn tại của ông lão. Ông như cái cây già thừa thãi của bến sông. Cuộc đời ông là vậy. Và chỉ có ông, duy nhất là ông mới lý giải nổi vì sao ông lại phải sống một cuộc đời như thế. Một cuộc đời đằng đẵng câm lặng.

*

*     *

Có lẽ cuộc đời ông lão Miến cứ như thế kéo đến ngày cuối cùng. Cũng chẳng sao, dân làng Kiện vốn sống đơn giản, những gì thuộc về ông, kể cả những bí ẩn mà chỉ mình ông gìn giữ, từ lâu đã không còn là điều bàn tán và lạ lẫm nữa rồi. Thế nhưng vào một ngày mùa đông của năm thứ bốn mươi trong quãng đời đơn độc sống với gốc cây si của ông lão Miến, lại xảy ra một điều bất ngờ khiến dân làng xầm xì mãi không thôi. Xầm xì là phải, ông lão, vợ con chết cả, họ hàng từ lâu coi như không còn, đã sống đơn côi một thời gian dài đến thế, giờ bỗng nhiên rước về ở đâu một gã trai phụ rèn lừng lững, khỏe mạnh, cặp mắt cũng đầm đẫn u buồn. Gã trai ấy tuổi ngoài bốn mươi, dáng vẻ từng trải. Một thứ từng trải chán chường. Sự kiện này nếu ở người khác thì rất bình thường nhưng với ông lão Miến thì dân làng coi hết sức hệ trọng và lạ lùng. Lạ chứ, vấn đề tạm trú, tạm vắng bây giờ không còn quá quan trọng nữa nhưng buộc lòng chính quyền xã vẫn phải cử cán bộ công an đến để xác minh người đàn ông mới nhập vào gia đình gốc si ấy. Giấy tờ của gã hợp lệ cả. Cũng chả đâu xa, người vùng này, ở bên kia sông cách có mấy chục phút chèo thuyền. Vì sao gã lại phiêu bạt đến gốc si? Chịu, gã lầm lì lắm, đố moi được tý gì ở gã. Còn vì sao ông lão Miến suốt mất chục năm nay đơn côi giờ lại dễ dàng tiếp nhận gã? Có hỏi sao trên trời cũng chịu. Hay là ông lão đốc chứng rồi? Có thể lắm. Chuyện về gã đàn ông lầm lì đến làm với ông Miến rộ lên được một chặp thì lụi hẳn. Làng Kiện xưa nay vẫn thế, chả có gì phiễu phão được lâu. Thế là phải, thời giờ còn để kiếm miếng đút miệng chứ.

Gã trai ấy tên là Hoán. Gã phiêu bạt lang thang đủ cả. Cứ nhìn nét mặt gã thì biết. Vốn cũng là người phiêu bạt, lại thêm nhiều năm sống tĩnh lặng nên cảm quan của ông lão Miến chính xác lắm. Chả thế mà ngay hôm đầu tiên, khi Hoán chỉ là cái xác mềm nhũn trước lều, ông lão đã mang máng đoán rằng đấy là một con người bất hạnh, đơn độc cần được cứu giúp và che chở. Ông đã không lầm. Hình như có một cái gì đó thuộc về số phận run rủi hai người đến với nhau. Ông dành sự chăm sóc đặc biệt cho Hoán. Trận cảm tối hôm ấy trong lúc Hoán rã rời tuyệt đối cả về tinh thần lẫn thể xác đã quật Hoán nằm liệt chiếu đến tuần lễ. Cũng may là Hoán còn lết được đến gốc si mới bất tỉnh, chứ không sự thể sẽ thế nào chỉ có trời mới biết. Mở mắt trong lần tỉnh đầu tiên, thấy dung nhan của ông lão tóc trắng, Hoán đã hoảng hốt tưởng rằng ông lão ấy không phải là con người cõi trần tục. Một thế giới khác rồi và thế là xong. Sự hoảng hốt qua đi để thoảng đến một niềm sung sướng nhẹ nhàng. Thế là xong tất cả, chấm dứt mọi khổ đau, u buồn, đày dọa, mọi dằn vặt, vấn vương. Nhưng không, trí óc con người dù ốm yếu vẫn là những sản phẩm siêu việt, Hoán lập tức nhận biết rằng, Hoán vẫn tồn tại trên cõi đời này… Hoán cựa mình trong cơn mê man. Hơi nước của tiết đông phả thành những bụm khói mù mịt tạo cảm giác ấm áp. Con sông này Hoán tắm từ tấm bé. Gần lắm rồi, quê hương. Hoán đã bỏ nhà đi ngót chục năm trời. Ký ức như một cuốn phim lướt nhanh trong trí tưởng tượng. Người mẹ già đã quá cố – Cô bạn gái hàng xóm – Người vợ cũ phản bội, kẻ đã đẩy Hoán chơi vơi mãi trong những tháng năm cùng cực – Thời thơ ấu – Quãng thời gian ở chiến trường – Rồi người đồng đội cũ. Chính Sơn đã đưa Hoán đến bờ biển rét mướt nọ. Vẫn biết mình hèn kém nhưng khoảnh khắc cuối cùng ấy, Hoán đã quyết định ở lại, Hoán không thể rời bỏ cực nhọc này, để liều lĩnh dấn thân vào cực nhọc vô biên khác mà Hoán chưa từng biết nhưng đã cảm nhận rõ ràng. Sau đêm ấy Hoán lại tiếp tục cuộc hành trình lang thang không định hướng. Như có một cái gì đó vô hình, cứ dẫn dắt Hoán ngày một lại gần hơn về nơi chôn nhau, cắt rốn. Gần hơn để rồi cứ mỗi ngày Hoán lại thảng thốt: Không, không thể về với xóm làng bằng hình hài khốn khổ và thứ hành trang lầm lỗi, tuyệt vọng này được. Nơi ấy đã sinh ra cho Hoán bao nhiêu điều tốt lành. Cứ thế, Hoán quanh quẩn và trận cảm đột ngột táp Hoán đến gốc si.

Phải đến mươi ngày sau Hoán mới tạm bình phục. Hoán nhìn ông già lạ lẫm, đầy biết ơn. Túp lều hoang sơ nhưng Hoán thấy có một cái gì đó rất gần gũi và quen thuộc. “Hãy ở lại đây với ta con ạ – Ông Miến bảo – Rồi sẽ tìm thấy điều mà con đang băn khoăn. Con trẻ dại và khờ khạo quá.”. Ông lão bỗng rưng rưng. Ông trìu mến nhìn gã trai đang ngơ ngác. Con trai của ta, nếu còn nó cũng bằng ngần này đấy con ơi…

*

*     *

Có một thời, ông lão Miến lẩn thẩn bây giờ từng là người danh giá nhất làng Kiện. Xa xưa lắm rồi, trước cả cái ngày ông về làm bạn với gốc si để bắt đầu một quãng đời bốn mươi năm đơn độc. Ngày ấy, anh Cai Miến còn được trọng vọng hơn cả đám chức sắc trong làng. Dân làng Kiện vốn nghèo, kiếm đâu ra được bạc tiền ở cái làng được lập trên khoảnh đất bồi quèn quèn chó ỉa ven sông này. Chủ nhân của cái làng nhỏ nhoi nghèo khó ấy rặt toàn là những hạng cùng đinh, dở sống, dở chết, hết phương làm ăn đành liều mạng cò kéo nhau về đây lập xóm, lập làng trên mảnh bãi hoang. Thôi thì tặc lưỡi lá rách đùm nhau cho qua ngày đoạn tháng. Cũng vì thế mà làng Kiện hèn kém, thua thiệt thiên hạ đủ mọi bề. Trai làng Kiện không thể lấy được gái bốn phương. Gái làng Kiện xinh đẹp đến mấy rời khỏi làng cũng chỉ chấp nhận phận thiếp thê hèn mọn bởi của nả hồi môn chả có. Tựu trung cũng chỉ vì làng nghèo. Nghèo đến nỗi mùa trống giong cờ mở, tầm sưu thúc thuế, làng Kiện được các loại quan lớn bé đặc cách bỏ qua. Tận cùng đến thế thì thôi, quan đã chê là đủ biết. Nghèo khó kéo theo hèn kém, dốt nát. Ăn chả đủ, chạy ăn hột thọt lên cổ không xong lấy đâu ra mà vọc vạch chữ nghĩa. Làng Kiện trải mấy đời lúc phình ra, dân cư đã ngót nghét ngàn xuất đinh, giật gấu, vá vai lập được đình làng vẫn không kiếm nổi một người biết gõ đầu trẻ. Nhục thế, đến mấu trên như lý trưởng tay lăm lăm triện đồng mà một chữ bẻ đôi không biết. Cả làng bói chả ra một người có máu mặt khả dĩ đua tranh được với thiên hạ. Vậy mà toạch một cái, anh cu Miến con nhà mõ Dong bỏ nhà đi kiếm ăn từ lúc còn để chỏm mười ba mười bốn, hơn chục năm sau bỗng lù lù trở về. Người cao to lừng lững, quần áo Tây là sắc cạnh, mặt mũi béo tốt phương phi đi đến đâu thơm lựng đến đấy. Đã thế chữ Tây, chữ Tàu đủ cả, nói gì cũng vanh vách. Thật là vinh quang cho làng Kiện.

Thoạt đầu, anh cu Miến bước từ trên xe ngựa xuống, người làng chả ai nhận nổi. Có những mấy người phu xe khuân lỉnh kỉnh va ly túi bọc. Dân làng từ người lớn đến trẻ con trố mắt nhìn. Người làng Kiện xưa nay cũng khối người đi đi, về về. Nhưng là loại cò hôi đi tha phương cầu thực, kiếm ăn lúc mùa màng thất bát, khấm khá lắm cũng chỉ đủ tay gậy, tay bị là cùng. Đằng này, ối giời ơi, mãi đến lúc anh cu Miến vanh vách đọc tên chào từng người thì dân làng nhất loạt ớ ra. Bỏ mẹ rồi, nhà mõ Dong mả táng hàm rồng gặp đại phúc. Phúc thật, đang đói lồi cả mắt. Mọi người nước miếng nuốt ừng ực. Ngay cả đến mõ Dong, mắt đánh mấy vành kèm nha, kèm nhèm, nhận ra con vẫn còn run lẩy bẩy, không dám tin là thật. Cu Miến về lúc chiều, chả lâu la gì chỉ đến sâm sẩm tối là cả làng Kiện thực sự vào ngày hội. Nhà mõ Dong vốn nghèo nhất làng. Nhà cửa xiêu vẹo, mục nát, hôi hám. Loáng cái đã sạch sẽ tinh tươm. Trẻ con trong làng đến xem chật ngõ. Đứa vét nhất cũng được mân mê trên tay cái kẹo giấy chữ loằng ngoằng, xanh xanh, đỏ đỏ. Thuốc lá Tây phả mùi khen khét. Mõ Dong xúng xính bộ cánh lụa mỡ gà mới khựng, guốc gỗ lộc cộc, khua khoắng mời mọc hết chòm trên xóm dưới. Tiền vào có khác, con lợn tạ nhà lý Trình đang được vỗ béo chờ Tết, bỗng chốc thủ lìa khỏi cổ, nằm chễm trệ trên mâm xôi, nghi ngút. Vườn nhà mõ Dong rải chật chiếu. Có dễ phải đến vài bốn chục mâm. Đèn bão treo lủng liểng, toàn đèn của các vị có máu mặt trong làng mang đến góp sáng. Sang thật. Giữa nền cái nhà vừa bị phá bằng địa, xếp một mâm chiếu trên. Mõ Dong ngất nghểu ngồi ngang hàng với lý Trình và ba bốn vị thuộc loại dân hạng nhất của làng. Bữa tiệc trùng phùng cu Miến khao làng hôm ấy kéo dài đến tận gần sáng. Mười lăm ngày sau, cu Miến đã dựng cho bố một nếp nhà gỗ ba gian, mái lợp ngói ta cẩn thận. Các đồ này, Miến tung tiền mua ở dưới tỉnh, chở ào ạt một buổi là xong. Thợ thuyền tấp nập khí thế bằng mấy đận làng cất đình. Mõ Dong bây giờ đã là Hương Dong, có suất trên ở chiếu đình. Một bước lên ông. Sướng thật. Quả là các cụ dạy không sai: “Con hơn cha, nhà có phúc”. Chỉ tiếc nhà mõ Dong giờ phiêu bạt tan tác hết cả, chỉ còn trơ khắc trụi lụi mỗi mình. Đại phước hưởng một mình cũng chán. Cái hôm Cai Miến sắp trở ra Hà Nội, Hương Dong đánh bạo hỏi: “Mày đi là nghiệp của mày. Nhưng phận làm con phải báo. Kiếm cho tao đứa cháu bế bồng.”. Miến gật gù: “Thầy bảo làng kiếm cho tôi một đứa. Nhưng phải sạch mắt.”. Cu Miến bấy giờ oai nhất làng. Tiền của như nước, đã thế còn danh giá chữ nghĩa đầy mình. Xoàng đâu, Miến là Cai lại là Cai nhà đèn mới oách. Tiền của đấy, nghề nghiệp ấy có ở Hà Nội đã sang trọng đủ bề, huống hồ ở làng. Gì chứ chuyện lấy vợ thì dễ ợt, tặc lưỡi là xong. Đám hỏi, đám cưới được tổ chức liền một ngày sau đó. Làng lại được một chầu phè phỡn. Dâu của Hương Dong tuổi vừa đôi tám, cũng con nhà hạng cùng đinh nhưng da trắng bóc, đẹp nhất làng. Cưới được mười ngày Cai Miến ngược ra Hà Nội.

Miến là Cai nhà đèn thật, chẳng phải cậy tiền phiệu phạo bịp đám dân quê. Đời thì dài mà kể thì ngắn. Chỉ biết trước khi thành cai như bây giờ, Miến phải trải qua một quãng đời khủng khiếp. Bỏ nhà đi từ lúc mười bốn, mười ba, Miến lang thang vất vưởng hơn chục năm trời khắp các đầu đường xó chợ. Đủ mọi nghề: ăn xin, ăn cắp, bán báo, đánh giầy, phu hồ, quét chợ, phu xe, phụ rèn. Nghề rèn Miến làm lâu nhất tít ở một chợ tỉnh mạn ngược. Tiền công ngày ba bữa rơm rèn. Lúc ấy Miến đã là một trai tráng vạm vỡ. Có một dịp may đến. Vợ chồng nhà thầu khoán nọ giàu có lắm ở Hà Nội nhân một chuyến công cán lên mạn ngược, cũng vô tình thôi nhìn thấy Miến đang quai búa. Miến khỏe mạnh, mặt mũi sáng sủa, lọt vào mắt vợ chồng nhà thầu khoán. Dò dẫm biết được gốc tích Miến, họ bèn bỏ vài chục bạc ra mua Miến. Rẻ chán. Lúc đầu cũng định dùng Miến làm đầy tớ sai phái phục dịch. Sau thấy Miến xốc vác việc nhà, lại hiền lành, ngoan ngoãn, tư chất cũng có phần thông minh bèn chuyển ý nhận làm con nuôi. Vợ chồng nhà ấy như  đôi đũa lệch. Chồng già yếu hom hem, sáu mươi mà cứ như bảy mươi, bảy mốt, vợ trẻ hơn, ngoài năm mươi nhưng vẫn còn hừng hực xuân sắc, khổ nỗi họ không có người nối dõi. Thế là anh cu Miến vớ bở. Bỗng chốc từ phận tôi tớ vọt thành công tử. Về chuyện này cũng là do Miến khôn ngoan, cưa sừng làm nghé, chứ ngần ấy năm phiêu bạt bụi đời kiếm đâu ra nữa tử tế mà ngoan ngoãn. Miến được học chữ, học nghề. Nhà thầu khoán giàu có xếp cho Miến một cái chân cai tập sự ở nhà đèn. Nghề điện chả cứ bây giờ, từ ngày xưa đã béo bở chán. Có tiền lại được chiều chuộng Miến bắt đầu tập tạch bàn đèn, con hát. Dấn vốn kha khá, lại được bố mẹ nuôi chu cấp, Miến bèn về thăm làng, làm nhà, mua chức sắc cho bố. Tiện dịp lại lấy vợ. Chả phải vì hiếu thảo để có người phụng dưỡng cha già hay vì tính đường nối dòng, nối dõi. Ngoài này Miến thiếu gì gái đẹp, đẻ bao nhiêu con mà chả được. Chẳng qua trong cơn chuếch choáng của cơn say vì được dân làng trọng vọng, Miến ngông lên lấy cho vui thế thôi. Vợ Miến đẻ con trai, Hương Dong mừng lắm, còn Miến thì dửng dưng như không. Đã bảo con cái là nghĩa lý quái gì, gửi về ít tiền là xong. Miến từ bé khổ nhục giờ thoát khỏi bùn đen, sung sướng phải hưởng đã. Năm con trai Miến được hai tuổi thì tai họa nối tiếp tai họa ập đến. Đầu tiên là cái chết của hương Dong. Từ ngày có tiền hương Dong sinh ra nghiện rượu. Nghiện nặng. Như người chết khát, rời mồm rượu là khát. Khát đến cháy ruột, cháy gan. Rượu tì tì. Một hôm hương Dong say quá, phải cảm chết đột tử. Thế mới biết đồng tiền báo hại chơi trò hai mặt. Những kẻ khốn khó vớ bẫm, đồng tiền càng nhiều báo hại. Sau này khi vỡ chuyện, dân làng Kiện bảo đó là do ông Trời quả báo. Chị Na, vợ Miến đánh dây thép mấy lần không thấy chồng về. Chôn cất bố xong, sốt ruột quá, liều mạng bồng con lóp ngóp ra Hà Nội. Miến có nhận được tin bố mất nhưng về làm sao được. Địa vị ông chủ bận rộn lắm chứ. Cả sản nghiệp của vợ chồng nhà thầu khoán bây giờ rơi vào tay mình Miến. Đầu đũa thế này: Bà vợ thầu khoán, chồng ốm yếu hom hem, lại đang tuổi hồi xuân. Hồi thế thôi chứ vốn dĩ bà là người đoan chính, tử tế chẳng bao giờ vương vấn chuyện lăng nhăng. Miến chẳng biết vô tình hay hữu ý cứ phô cái thân thể cường tráng như trêu ngươi bà. Không cầm lòng được, một hôm chồng đi vắng, bà mò vào với Miến. Con người vốn gốc gác là cầm thú nên nhiều khi bị tính thú lấn lướt. Thì quan hệ thế chả thú vật là gì. Cuộc loạn luân khốn nạn được ít lâu thì bại lộ. Thấy vợ bỗng đẹp phây phây, nói cười hơn hớn ông chồng sinh nghi liền dụng công rình rập bắt được quả tang. Thấy hai thân thể trần như nhộng quặp riết lấy nhau lăn lộn trên sập, máu ông sủi sùng sục. Phen này chúng mày chết, có chạy đằng trời. Bỗng ông há hốc mồm khi nhận ra kẻ gian phu lại chính là đứa con nuôi quý tử, người ông tự hào chọn làm thừa tự, đã di chúc, di chiếc đủ cả. Khốn nạn. Uất quá ông ú ớ miệng sùi bong bóng, cấm khẩu tức thời, ngã vật giãy đành đành như cá chép mắc lưới. Bà vợ nguyên dạng cầm thú chạy ra ôm chồng. Kịp làm sao được, ông đã tắt thở. Đã nói bà là người đoan chính chẳng may sa vào vòng lửa dục nên mắc lỗi. Quá đau xót bà điên dại, cứ thế không mảnh vải trên người chạy ra đường gào thét. Dân tình sau đó đồn đại rằng, nhà thầu khoán ốm yếu tiếc của giời, chơi trống bỏi, bởi quá sức nên bị trúng căn bệnh hiểm nghèo “hàn phong ngộ cảm”, bệnh lẽ ra chỉ bọn trai tơ mới mắc. Miến có thuê người đưa bà thầu khoán vào bệnh viện chạy chữa nhưng không cứu được. Tội nghiệp người giàu có thế, mà đến lúc chết vẫn không mảnh vải che thân. Nghiễm nhiên, Miến thành ông chủ kếch sù. Nhiều tiền Miến càng đàng điếm ăn chơi.

Hôm vợ Miến lọ mọ tìm đến nhà, đúng lúc Miến đang trong cơn hoan lạc. Bấm chuông mãi, chị Na mới thấy một ả phấn son lòe loẹt, áo quần xộc xệch, hở hang uể oải ra  mở cửa. Cũng lằng nhằng mãi ả mới chịu cho vào. Chị sững sờ người khi thấy huếch hoác giữa nhà mấy ả nằm tơ hớ, cả Miến trong cái đám ngổn ngang ấy. Đứa con hai tuổi rơi đến phịch, khóc ré. Chị không nói một lời nào, ôm con quày quả chạy ra bến, đáp xe lửa về làng. Ngay tối hôm ấy chị Na phóng lửa thiêu trụi ngôi nhà Miến làm, rồi ôm con trầm mình xuống sông. Có người làng đánh cá đêm nhìn thấy nhưng chịu không vớt được. Tin dữ đến, Miến về ngay, bỏ một món tiền lớn thuê người lặn, vớt tìm kiếm suốt dọc sông ra đến tận cửa bể mà không tìm thấy xác. Sự thể thành ra to tát, Miến đâm hối. Có là súc vật vào tình cảnh này cũng phải hối. Qua chín ngày đêm, vẫn chưa thấy kết quả. Hoàng hôn hôm thứ mười, Miến buồn nản và mệt mỏi tựa lưng vào gốc cây si nghỉ. Mặt trời đỏ thẫm từ từ lụi dần phía bên kia sông. Trong giây phút hấp hối cuối cùng nó cố hắt vung vãi những tàn nắng yếu ớt xuống mặt sông. Loang loáng một màu nước đỏ. Bỗng Miến thấy mặt nước trong hõm cây si động đậy, rồi hiện lên hai xác người. Miến lội ào xuống. Xác hai mẹ con được vớt lên. Tươi rói. Như không phải người chết. Càng như không phải người bị ngâm dưới nước đến mười ngày. Mắt của hai mẹ con mở bình thường nhìn Miến lạnh lẽo. Miến rú lên… Theo lệ làng người chết sông, vớt đâu chôn đấy. Xác hai mẹ con được chôn ngay cạnh gốc si. Thật lạ, từ hôm ấy cây si nước đang lặng tờ bỗng xoáy xiết và suốt bốn mùa ngầu ngầu đục đỏ. Dân làng từ đấy gọi là Hõm Ma Tươi.

*

*    *

Có một phép màu nhiệm nào đó đã giữ nguyên thi thể hai mẹ con người đàn bà xấu số để làm thức tỉnh những gì không cắt nghĩa được trong con người Cai Miến. Chôn cất vợ con xong, Cai Miến từ bỏ tất cả, làm nháo nhào một túp lều, khuân về một bộ nghề rèn và ở lì dưới gốc cây si từ đấy. Suốt bốn mươi năm với tâm trạng khắc khoải, ông kéo dài cuộc đời mình trong cô đơn và tĩnh lặng. Không phải để gột bớt lầm lỗi. Tội lỗi sao gột rửa được bằng thời gian và sự đầy đọa. Ăn năn bây giờ ích gì nữa. Tội ác ông gây ra chẳng bao giờ mong có thể rũ sạch được. Ông sống như là một sự trừng phạt. Phải, trừng phạt. Dân làng Kiện nói đúng. Cứ tối tối ông lại trầm mình xuống Hõm Ma Tươi. Không phải để tắm táp. Ông lặn ngụp hồi lâu trong đấy. Vợ con ông đã ngâm mình ở nơi này đến mười ngày. Đầu tiên vì quá đau đớn, ông như muốn chia sẻ và tìm kiếm niềm ân hận trong hõm nước xoáy xiết như thể hành động ấy làm vợi đi phần nào nỗi xót xa thân phận của những người xấu số. Dần dà theo thời gian, thói quen ấy thành nhu cầu cần thiết hàng ngày, không thể thiếu được như cơm ăn, áo mặc của ông lão. Cứ mỗi ngày vào buổi hoàng hôn, thời khắc mà bất chợt ông tìm gặp được vợ con, ông lại buông mình từ cội si xuống. Cứ thế dù là mùa hè nóng nực hay tiết đông căm căm, nước lạnh buốt tái tê. Ngâm mình hồi lâu ông lão lập cập bưng lên đặt trên bàn thờ hai bát nước sông. Ông chỉ cúng bằng thức ấy. Hương cháy đỏ, lập lòe là ông lão quỳ xuống chắp tay, ngước mắt chờ đợi. Thấp thoáng rồi hiện rõ hình ảnh vợ ông. Cô Na và đứa con hai tuổi. Mắt hai người nhìn ông lạnh buốt. Đã nhiều lần khẩn cầu song suốt bốn mươi năm nay tối tối hiện về, hai người vẫn chỉ lặng im nhìn ông. Họ gặp nhau mỗi tối trong đúng một tuần hương. Trong những giây phút ngắn ngủi ấy, ông ngước mắt bất động như một tín đồ thuần phục chờ đợi sự phán xét. Mắt ông chan chứa, vừa xót xa, vừa ân hận, nhục nhằn và van xin khẩn thiết. Cứ thế ông lão chờ đợi sự giải thoát từ những cặp mắt không hề oán trách, không hề căm hờn chỉ lạnh lẽo băng giá kia. Đằng đẵng vẫn chỉ là những cặp mắt lạnh lẽo. Vì thế ông câm lặng. Ông không được sử dụng cái quyền đơn giản nhưng tối thượng nhất của của loài người là tiếng nói. Trong bốn mươi năm cho đến nay ngày gặp Hoán chỉ có hai lần vì hoàn cảnh bắt buộc ông đành mở miệng. Lần thứ nhất sau hòa bình năm tư vào dịp cải cách, chính quyền gọi ông về trụ sở lục vấn về thời gian làm cai bóc lột. Lúc ấy ông đã ở gốc si được dăm năm. Ông im lặng gần hết một ngày. Vì tội ngoan cố không chịu mở miệng cung khai, suýt nữa ông bị giải lên huyện tập trung cải tạo. Rất may, dân làng Kiện đứng ra bảo lãnh cho ông. Làng Kiện trong kháng chiến không phải làng tề, nên tiếng nói của dân có nhiều trọng lượng. Mọi người bảo: “Làm cai chắc chắn là có bóc lột. Đã là bóc lột có đem bắn cũng đáng. Song hãy tha cho ông ấy. Vợ con chết oan khuất, ông ấy đang sống dở, chết dở. Nhục hơn cả chết.”. Ấy là dân Kiện tử tế, nghĩ đến đoạn hối lỗi về sau của ông nên làm phúc. Cũng trong lần ấy uỷ ban xã bắt ông phải rời gốc si để về làng sinh sống tập thể. Cực chẳng đã ông Miến đành phải nói run rẩy: “Xin hãy cho tôi được ở gốc si để đắp điếm phần mộ cho mẹ con cô ấy. Nếu phải rời đi, cầm bằng phận tôi đã hết.”. Dân làng Kiện lại xúm vào xin hộ: “Cái lò rèn của ông ấy coi như là đóng góp tập thể.”. Mà cũng đúng thế, ông làm cật lực cũng chỉ lấy đủ ngày bơ gạo, mớ rau. Mọi việc lần ấy xong xuôi cả.

Lần thứ hai, đang lúc chiến tranh bom đạn ùng oàng. Một tối ông đang thắp hương thì có một người đàn bà góa mò đến. Có lẽ chị ta không chịu nổi cảnh một mình đơn chiếc, hoặc giả quá mê mẩn người đàn ông kỳ dị, gần tuổi năm mươi vẫn tràn trề sức lực. Ông Miến đang trong lúc gặp vợ con mặc kệ chị ta lầm bầm bày tỏ. Nói một mình chán, chị ta sấn đến ôm chầm lấy ông vật ngã. Sức lực của người đàn bà nạ dòng mạnh đến không ngờ. Lồm cồm ngồi dậy, mắt vẫn ngước lên ban thờ, ông chỉ tay ra hai ngôi mộ ngoài cửa, nói thật khẽ: “Hãy vì hai con người bất hạnh nằm kia, xin để tôi yên.”. Người đàn bà bẽ quá lủi mất. Chỉ có thế, vẻn vẹn trong bốn mươi năm ông cất tiếng nói với người ngoài đúng có hai lần.

Còn lần gặp Hoán. Sau khi vất vả đưa được Hoán vào lều. Thấy tình cảnh Hoán ông ái ngại quá. Tối hôm ấy trong buổi thắp hương thường nhật, khi hương đã gần tàn ông vẫn cố vớt vát: “Na ơi, xin em hãy nán lại tý chút để anh nói đôi lời. Thằng bé ấy như con của chúng mình, cũng tuổi ấy. Nó cần được  cứu giúp và che chở. Hãy trả lời anh đi, có bằng lòng không, Na ơi?” ông ngước mắt chờ đợi. Sự chờ đợi của ông đã được đền đáp. Khóe mắt người đàn bà bất hạnh từ từ lăn xuống những giọt nước trong vắt. Ông hiểu vợ ông đã bằng lòng. Lần đầu tiên trong suốt bốn mươi năm, ông lão Miến đã tự mỉm cười.

*

*     *

Ông lão Miến bây giờ không câm lặng nữa. Ông đã nói lại bình thường. Sự lạ ấy dân làng Kiện nhanh chóng quên đi. Từ ngày có Hoán, lò rèn của ông trở nên tấp nập suốt ngày bếp than hồng rực, búa đánh chí chát. Bây giờ không chỉ dân làng Kiện, khách trong vùng đã dập dìu kéo đến rèn dao, đánh cuốc. Tài nghệ của ông lão Miến lâu nay đã lan truyền, ngặt vì ông chỉ làm cho làng Kiện nên mọi người đành chịu. Bỗng dưng ông lão đổi nết, khách được dịp đến nườm nượp. Đông lắm, hai thầy trò làm cật lực cũng không xuể việc. Hợp tác làng Kiện phải cử hẳn một kế toán viên đến trực tiếp làm việc giao dịch và thu tiền. Đã bảo, ông lão và Hoán bây giờ nữa chỉ cần bữa kiếm đủ bơ gạo, mớ rau là thôi.

Trong số khách hàng thường xuyên lui đến trở thành quen thân với thầy trò ông lão Miến có một cặp vợ chồng thuyền chài. Người khách cao tuổi chỉ kém ông Miến chút ít, thường cặp thuyền vào Hõm Ma Tươi để lên bờ thăm thú. Chị vợ ở dưới thuyền. Thấy bảo còn trẻ lắm, ngượng vì chồng già nên ít khi rời thuyền lên bờ.

Hoán cặm cụi làm suốt ngày và vẫn lầm lì, như cũ. Hoán bây giờ lòng có ấm áp đôi chút song nỗi buồn vẫn không nguôi. Thực tình cảm cái ơn cứu mạng của ông lão Miến thì Hoán ở lại, chứ còn mọi thứ tất tật với Hoán vẫn là vô nghĩa. Hoán chả thiết thứ gì, Hoán như con thú trọng thương, giờ nhìn cái gì cũng ra cạm bẫy, ngờ vực lánh xa mọi thứ. Về đây Hoán bỏ cả thói quen uống rượu. Ông lão Miến nghe nói ngày xưa khấm khá lắm mà giờ đây đạm bạc, uống chỉ rặt một tý nước sông. Vậy mà có một hôm bỗng dưng ông Miến bảo Hoán nghỉ hàng để tiếp cơm khách. Vẫn là người khách thuyền chài. Bữa ấy ông Miến uống thật say, cả người khách nữa. Hoán cũng thế. Trong chuếnh choáng của hơi men, Hoán linh cảm có một điều gì đó hệ trọng lắm sắp xảy ra. Linh cảm thế thôi chứ Hoán làm sao biết được.

*

*    *

Người đàn bà ít rời thuyền lên bờ chính là Mít, người bạn thiếu thời của Hoán, người đã từng vò võ chờ Hoán suốt những năm tháng chiến tranh để rồi hoàn toàn tuyệt vọng khi Hoán chiến thắng trở về với một người đàn bà khác. Mít không trách Hoán. Ngày ấy Hoán có hẹn hò gì với Mít đâu mà trách. Mít cũng chỉ tuyệt vọng. Sự đổ vỡ niềm tin của những người có tấm lòng son sắt bao giờ cũng khủng khiếp. Sau khi Hoán cưới Lài, Mít đóng cửa khóc ròng rã một ngày cho kỳ hết nước mắt. Rồi Mít bơi ra giữa sông. Mít đã có chủ định, ở đấy có chiếc thuyền con đánh cá của người đàn ông góa vợ làng bên. Chính là người khách rượu của ông lão Miến và Hoán. Ông tên là Côi. Mắt ráo hoảnh, Mít bảo: “Bác ơi, cháu là một người mất hết mọi thứ, không thể ở làng được nữa. Bác hãy cứu cháu. Lấy cháu làm vợ.”. Người đàn ông góa vợ tròn mắt: “Cháu nói gì lạ vậy. Bác già rồi mà cháu còn trẻ thế. Đừng uổng phí đời mình cháu ạ.”. Mít buông tay chìm dần xuống nước. Ông Côi hoảng hốt: “Đừng đừng… cháu hãy về đi, nghĩ thật kỹ, tuần sau ra đây.”. Là nói thế, ông Côi muốn Mít tĩnh trí nghĩ lại. Thật tội cho cô bé đáng thương. Ông hơn Mít những hai chục tuổi. Mà ông thì đã là người tàn phế. Chẳng phải ông góa vợ. Vợ ông bỏ đi chỉ vì ông không có khả năng giúp bà sinh đẻ. Mà bà thì muốn có con. Người phụ nữ ai chẳng muốn có con. Một trận cảm tai ác đã làm ông không còn là đàn ông nữa.

Tuần sau y hẹn Mít lại quay ra. Khuyên nhủ mãi không được. Sợ Mít liều, ông Côi đành phải chấp nhận. Bên ngoài là vợ chồng, bên trong họ sống với nhau bằng tình phụ tử. Mít đã quên đi mối tình của mình bằng cách chôn cuộc đời vào con thuyền và sông nước. Thấm thoắt đã hơn chục năm trời. Vào đúng lúc Mít đã an bài cuộc đời mình thì Hoán xuất hiện. Biết tình cảnh Hoán bị vợ phản bội phải sống vật vã lang thang, lòng Mít rung rinh. Rung rinh thế thôi chứ Mít khăng khăng không chịu  nghe lời cha nuôi để tìm Hoán. Mít không thể làm điều ấy khi mà xưa nay dân làng vẫn coi họ là đôi vợ chồng, tuy có chênh lệch nhưng sống với nhau hết mực hòa thuận. Đêm ấy ông Côi say rượu. Mít neo thuyền rồi dìu ông vào nhà. Mít cứ trằn trọc mãi. Hình ảnh Hoán chờn vờn, bất giác cô đưa tay lên vòng ngực trinh nữ rắn câng. Mít thiếp đi trong nỗi phập phồng đầy lo âu. Trong giấc ngủ chập chờn, cô mơ thấy tiếng của người cha tôn kính từ xa thẳm vọng về:

– Mít ạ, con hãy ngủ ngon. Ta không để lại cho con một lá thư vì đời ta chưa được học chữ bao giờ. Con ơi hãy tĩnh tâm mà suy xét. Con người không thể sống đơn độc, phải có lứa đôi. Ta đã chiêm nghiệm được điều ấy từ chính đau khổ của mình. Con hãy tìm đến với Hoán. Đừng vì ta nữa. Ta đi đây. Ta đã già rồi. Ta mang theo con thuyền sống chết cùng nó. Đừng trách ta con ạ. Ta chỉ mong con được hạnh phúc.

Mít bừng tỉnh. Cứ chân trần cô chạy ào ra bến sông. Không phải giấc mơ. Con thuyền đang từ từ rời bến. Cô chạy dọc theo mép sông gọi thổn thức: “Cha ơi…”. Trả lời cô là những tiếng vọng của mặt sông rền đầy gió. Gió và gió. Trời vằng vặc đầy sao.

*

*      *

Người làng Kiện đi đưa đám ma ông lão Miến rất đông. Xe chở cả xác của hai mẹ con cô Na về cải táng ở nghĩa địa làng. Hôm lão Miến đi nhanh lắm. Sau bữa rượu buổi chiều – Mặc dù say ông vẫn giữ nguyên nếp thường ngày. Khi những nén hương thắp lên ông Miến bỗng sửng sốt. Trước mắt ông bây giờ là một bà lão cùng một người đàn ông trạc tuổi Hoán. Bà lão bảo: “Mình không nhận ra con và tôi sao?” Ông Miến nghẹn ngào. Bà lão tiếp: “Thôi mình ạ. Tôi tha thứ cho mình!”. Ông Miến òa khóc. Đêm hôm ấy ông thức trắng bên hai ngôi mộ. Đến sáng ông gọi Hoán bảo:

– Ta chờ ngày này đã bốn mươi năm. Hôm nay là ngày cuối cùng. Bà ấy đã tha thứ cho ta. Vậy là linh hồn tội lỗi của ta đã được siêu thoát. Con hãy giúp ta sửa soạn. Còn con Hoán ơi, sau khi chôn cất ta xong con hãy quay trở về với Mít. Người bạn thuyền chài đã nói với ta tất cả và ông ấy đã giong buồm ra đi để các con được đoàn tụ. Hãy trở về với cô ấy. Trở về với quê hương của mình. Đừng dại dột nữa. Đời con đâu đến nỗi. Lỗi lầm của con so với tội ác của ta đã thấm thoắt gì. Hãy tin ta. Ta đã sống đến tột cùng tội ác và tột cùng ăn năn. Ta đã được tha thứ bởi ta đã trở về với gốc si và bến nước này. Ta đã mãn nguyện lắm rồi. Chỉ có trở về… Hãy nghe ta… trở về…

*

*     *

Huyền thoại về ông lão Miến đã kết thúc sau đám tang của ông. Mọi người chỉ thắc mắc rằng, ông lão Miến, con cháu chẳng có, ngoài gã phụ rèn tên là Hoán dân làng đã biết, hôm lễ đám mặc đồ tang tiễn thầy đã đành, còn xuất hiện một phụ nữ đứng tuổi, sô gai kín người, gục vào vai Hoán khóc thảm thiết. Có người bảo: “Đấy là hai vợ chồng.”. Cũng có người bảo: “Anh chồng bỏ đi phiêu bạt đã lâu giờ may mắn chị vợ tìm được.”. Có người lại nói: “Đấy là con gái riêng của ông Miến thất lạc. Mãi giờ tìm được bố. Ông Miến trước khi nhắm mắt đã tác thành cho con.”. Còn nhiều nữa, dẫu sao cũng chỉ là những lời phỏng đoán, đồn đại. Song có điều này là chính xác. Dân làng Kiện bây giờ muốn rèn rũa cái gì, phải vượt sông sang tận hợp tác xã cơ khí của làng Vực. Xa lắm, chất lượng lại tồi. Dân làng càng tiếc tay nghề tinh thông của ông lão Miến. Cây si bây giờ không có người ở, chim chóc về đầy ríu rít. Hõm Ma Tươi không còn xoáy xiết và ngầu bọt đục đỏ, nước đã trở lại trong xanh và hiền từ lặng lẽ. Trẻ con trong làng tụ tập dưới gốc si nghịch ngợm chán rồi rủ nhau ùm ùm, tắm táp ở hõm nước. Tối tối, nhiều đôi trai gái dập dìu tình tự lấy gốc si làm điểm hẹn. Từ đấy dân làng gọi bằng cái tên cũ: Hõm nước Cây si.

PNT

Advertisements

Entry filed under: Truyện ngắn.

Khoảnh khắc Chuyện bố con ông “vua chó” làm thơ

46 phản hồi Add your own

  • 1. Meogia  |  Tháng Tám 12, 2009 lúc 4:02 chiều

    Tem tèm tem tém tem!

    Bác PNT này không tiếp thu ý kiến của mưu sĩ Small là tách ra thành từng đoạn ngắn cho bà con thèm chơi nhỉ!

    Phản hồi
  • 2. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 12, 2009 lúc 4:15 chiều

    Ui dào, truyện cũ rích rồi, tách ra làm gì. Cón khối thứ mà.

    Phản hồi
  • 3. Meogia  |  Tháng Tám 12, 2009 lúc 5:09 chiều

    Câu chuyện thoáng có màu sắc huyền bí, nhưng nội dung thật cảm động, cuốn hút, đã đọc thì phải đọc tới hết luôn! Đúng như anh Tiến nói, một kết thúc có hậu và theo meogia thì đây là một kết thúc hợp lý.

    Meogia thấy có một số lỗi morat, chính tả gì đó, anh chịu khó sửa cho nó perfect nhé:

    – “đôi lũa lệch”- đũa lệch
    – “Đứa vét nhất” -hay là “bét” nhất?
    – “chạc tuổi” – trạc tuổi

    Phản hồi
  • 4. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 12, 2009 lúc 5:21 chiều

    Vét nhất là cách tôi hay dùng. Hai lỗi kia thì đúng. Không soi hết được. Sửa những lỗi này tác giả đọc theo mạch rất khó nhận ra. tui vừa bỏ cả tiếng sửa trước khi post rồi đấy. Ko có thời nhiều thời gian. Cảm ơn Mèo.

    Phản hồi
  • 5. meogia  |  Tháng Tám 12, 2009 lúc 6:06 chiều

    thanks, Meogia hoc them duoc mot tu. Vi khong chac chan y tac gia nen phai hoi lai. Trong bai cung mot so cho tuong tu, chac phai hoi anh Tien. Cung la dip tot de hoc them, ma lai hoc tu nha van nua, suong!

    Phản hồi
  • 6. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 12, 2009 lúc 7:26 chiều

    Sửa mấy cái lỗi kia rồi. Nhặt được thêm vô số lỗi nữa. Tui ngại nhất là ngồi đọc sửa lỗi. Về từ ngữ tui hay biến từ và nói lái nên nếu là văn để chấm theo chuẩn thì rất hay bị bắt bẻ ( tất nhiên loại trừ chính tả. Cái đó phải chuẩn). Thiết nghĩ bản sắc của mỗi người viết là chính ở những điểm bị bắt bẻ ấy.

    Phản hồi
  • 7. meogia  |  Tháng Tám 12, 2009 lúc 8:50 chiều

    hinh nhu dan gian khong noi la “gai bon phuong”, ma goi la “gai thien ha”, phai khong anh?

    Phản hồi
  • 8. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 12, 2009 lúc 9:54 chiều

    Dấu đi đâu rồi mà viết thế này. “bốn phương”, “thập phương”, “thiên hạ”…dùng tùy từng văn cảnh, thấy thuận là được không nhất thiết phải chẻ ngữ tường tận.

    Phản hồi
  • 9. meogia  |  Tháng Tám 12, 2009 lúc 10:14 chiều

    khekhekhe! Chac lan sau thay mat Meogia la PNT tat may qua!

    Phản hồi
    • 10. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 12, 2009 lúc 10:26 chiều

      Thấy mặt bao giờ đâu mà bảo là tắt máy. Chỉ võ đoán thôi. Khe…khe…

      Phản hồi
  • 11. meogia  |  Tháng Tám 12, 2009 lúc 10:31 chiều

    Chac em phai thay avatar va nick chu de bac ghet cung met.

    Thoi bac vuot gian, “bon phuong” hay “tam huong” gi cung duoc! kekeke!

    Phản hồi
  • 12. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 12, 2009 lúc 10:49 chiều

    Nhất trí cao!

    Phản hồi
  • 13. tepbo09  |  Tháng Tám 13, 2009 lúc 10:01 sáng

    Chỉ là một truyện ngắn mà chứa đựng nhiều cuộc đời, nhiều tình tiết rất hay và giàu hình ảnh.Trong truyện này có một từ hay và lạ” phễu phão”, nghe như là thêu dệt, đồn đại, tò mò… phải không bác Tiến?

    Phản hồi
  • 14. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 13, 2009 lúc 12:28 chiều

    Phiễu phão, phiệu phạo…chỉ là cách biến từ đi thôi mà. Đúng thế, đồn thổi…

    Phản hồi
  • 15. Small  |  Tháng Tám 15, 2009 lúc 2:15 chiều

    “Nghề rèn là nguồn sinh nhai thường nhật của ông lão”
    Quê cháu cũng làm nghề rèn đó chú ạ! đó là nghề truyền thống của làng, cháu cũng là một thợ rèn nè, nhưng 10 năm rồi ko quai búa nên chắc quên hết rồi.

    Phản hồi
  • 16. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 15, 2009 lúc 7:05 chiều

    Ái chà chà, quai búa hoách đấy. Quên thì thi thỏang về quai vài búa cho nhớ nghề. Khe…khe…

    Phản hồi
  • 17. Small  |  Tháng Tám 16, 2009 lúc 9:16 sáng

    Bây giờ cháu mới đọc hết câu chuyện nè, đọc 3 lần luôn chú à! chú viết cuốn hút quá, đọc rùng mình và sợ, hihi.

    Phản hồi
  • 18. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 16, 2009 lúc 9:19 sáng

    Rùng mình và sợ thì gay go quá. Quai cho một nhát búa…khe…khe….

    Phản hồi
  • 19. Small  |  Tháng Tám 16, 2009 lúc 9:32 sáng

    Vì cháu có tính sợ ma nhưng lại thích nghe chuyện ma, đọc chuyện ma….nhưng dể bị ám ảnh, thế là từ đó ko dám nghe, dám đọc chuyện ma nữa. Đọc chuyện này của chú, vừa đọc vừa tưởng tượng đó.
    Đọc bài này thấy thấy yêu nghề thợ rèn thật và có chút tự hào vì gd cháu từng làm nghề rèn, cháu từng quai búa giỏi. Bắt đầu từ 7-8 tuổi là làm rồi, ai sinh ra và lớn lên ở làng đều biết nghề này. Cháu từng tự làm những bộ bàn lề xây cửa đấy chú ạ! nhưng khi đi học ĐH thì ko làm nữa, đến bây giờ luôn…

    Phản hồi
  • 20. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 16, 2009 lúc 12:49 chiều

    Nghề rèn là một nghệ có đặc thù rất riêng. Những thợ rèn giỏi thực sự là những nghệ nhân. Thời hiện đại máy móc dần làm thay con người nhưng nghề rèn dẫu có lụi đi nhưng ko bao giờ tàn. Chú vẫn thích dùng những đồ sắt thủ công. Cực tốt và có hồn. Small tự hào là đúng.

    Phản hồi
    • 21. Small  |  Tháng Tám 16, 2009 lúc 3:44 chiều

      Cháu cảm ơn chú! đúng thật, những thợ rèn giỏi thực sự là những nghệ nhân. Trong làng cháu, đàn ông là thợ chính, họ mới là nghệ nhân.

      Phản hồi
  • 22. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 16, 2009 lúc 5:56 chiều

    Còn đàn bà lãnh đạo nghệ nhân. Khe…khe…

    Phản hồi
  • 23. Hồng Chương  |  Tháng Chín 19, 2009 lúc 10:15 chiều

    Truyện này hay quá. Cuối cùng thì đâu cũng vào đấy, nhưng đúng là: Thôi, cũng xong một kiếp người.

    Tôi lần đầu tiên thấy từ phiễu phão.

    Phản hồi
  • 24. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Chín 20, 2009 lúc 4:41 chiều

    Vâng, xong một kiếp người. Nói thì đơn giản nhưng để xong được quả là cam go và không biết thế nào mà lần. Chỉ mong cho xong được suôn sẻ.
    Phiễu phão là từ biến. Tui thích biến từ để chơi. Hoặc giả là gắng nặn ra từ mới cho sinh sắc, tỷ như cái câu chửi đệm: thánh họ. Nhưng đôi khi cũng bị phiền hà với cánh biên tập. Gặp tay nào cứng nhắc sống và làm việc theo…ngữ pháp là mình tiêu luôn. Khe…khe….

    Phản hồi
  • 25. Giao trọc Balan  |  Tháng Mười 11, 2009 lúc 3:47 sáng

    Chuyện hay mà bây giờ mới được đọc. Sao hồi sang Balan không bảo để mọi người bên này thưởng thức ”hõm ma tươi”? Mình thích nhất ý : ông lão chỉ nói có vài lần trong từng ấy năm trời ! Chắc nếu sống lại thì cũng không dám nóì vì người đời không cho nói. Hehe…

    Phản hồi
  • 26. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Mười 11, 2009 lúc 8:50 sáng

    Chuyện đó xa xưa rồi. Thời đó con người còn biết ám ảnh tội ác và biết tự trừng phạt.
    Giờ đúng là khác xa thật, khó có thể tự câm và muốn nói cũng khó. Nhơn nhơn hết lượt từ kẻ trên đến người dưới. Sợ lắm thay! May là quỹ sống của tui còn ít. Coi như xong một…kiếp người. Khe…khe….

    Phản hồi
  • 27. Giao trọc ở Balan  |  Tháng Mười 11, 2009 lúc 3:01 chiều

    Mô phật ! Quỹ của tui còn ít hơn nên có khi phải nói toẹt ra thui … để mà đi cho thanh thản.

    Phản hồi
  • 28. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Mười 12, 2009 lúc 1:28 sáng

    Khe…khe….

    Phản hồi
  • 29. Hà Tĩnh  |  Tháng Mười Hai 29, 2009 lúc 6:22 chiều

    Tại sao 2 người lính trở về đều k thể hòa nhập vào cuộc sống sau chiến tranh được? trong chiến tranh họ là những người lính rất quả cảm, và về đời thực thì có cái gì đó như là không thể như là một người bình thường??
    mấy truyện này kéo người đọc đọc 1 mạch rồi mới đứng lên được..
    TDDD và chùm truyện này cũng thế đều có sự hiện diện của những ông già…

    Phản hồi
    • 30. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Mười Hai 30, 2009 lúc 1:57 sáng

      Những người lính trở về phải rất vất vả để hòa nhập vào cuộc sống cuộc sống hòa bình bình thường. có người không thể hòa nhập nổi bởi cuộc sống chiến tranh là một cuộc sống vô cùng đặc biệt. Vì sao đặc biệt thì có quá nhiều nhà văn đã lý giải. Hà Tĩnh đọc Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh là rõ nhất.
      Nhân vật ông già…ờ nhỉ, thì có trrẻ phải có già chứ. Và tại tui từ trẻ đã già hóa….tâm hồn mất rồi. Giờ đang gắng làm trẻ mình lại đây. Tinh làm ngược. Thế mới khổ.

      Phản hồi
      • 31. Hà Tĩnh  |  Tháng Mười Hai 30, 2009 lúc 8:32 sáng

        E nghĩ mỗi người viết đều đưa ra lí giải riêng, và ai cũng có lý, bởi vì khi người lính trở về cuộc sống thực muôn hình vạn trạng, họ đối mặt với muôn người thì cũng sẽ có muôn cách nghĩ khác nhau để tồn tại. Trong chiến tranh thì những người lính có mục tiêu duy nhất là:”nhằm thẳng quân thù mà bắn”, mọi suy nghĩ và hành động của họ hầu như là cùng 1 hướng. Và họ sắn sàng hy sinh tính mạng mình cho ngày chiến thắng, cho tương lai tốt đẹp.Dường như khi là lính người ta không sống cho bản thân mình, không có những toan tính vị kỉ.
        Với bản tính thẳng thắn, bộc trực và chân thành như thế họ trở lại cuộc sống.
        Qua câu chuyện kể thì chúng ta cũng thấy họ đã khó khăn, khổ sở thế nào để hòa nhập lại.2 người lính- 2 cách hòa nhập, nhưng có chung mẫu số là rất trắc trở, bập bềnh và họ rất cô đơn. Sự cô đơn của những người đã từng kinh qua môi trường hình như là lí tưởng: mọi người sẵn sàng hy sinh lợi ích-thậm chí cả mạng sống cho sự nghiệp chung, nhưng trở về trong cuộc sống thời bình phải đối mặt với bao bon chen, gian dối nghiệt ngã. Cuộc sống người lính đã củng cố nhữg tính cách: trung thực, thẳng thắn đến mức như là cực đoan trong họ, nhưng cuộc sống sau thời chiến thì khác: những cái đó hầu như không còn được tôn vinh, khi anh sống với họ, anh buộc phải chấp nhận để tồn tại, hay anh không chấp nhận để bị văng ra ngoài.
        Hoán- người lính đã lăn lộn hết chiến trường này sang chiến trường khác không suy tính riêng cho bản thân, chỉ là” nước còn giặc, anh còn đi đánh giặc”. Khi trở về đối mặt với sự thật, anh đã suy sụp hoàn toàn và trở thành con người lang bạt, sống vô định và lương thiện theo cách của anh. MÀ cho dù đã cố tránh xa con người, sống tách biệt hẳn ra với con lợn đực, ngày ngày lợn trươc chủ sau đủng đỉnh đi khắp phố phường làm nhiệm vụ lai giống..Những tưởng sự yên bình mãi mãi trôi như thế thì sự nghiệt ngã của cuộc sống vẫn không buông tha..Nghiệt ngã nối tiếp nghiệt ngã trên con đường tìm kiếm sự bình yên lí tưởng, trốn chạy thực tại của Hoán..Một người lính khác: Sơn thì lại lao vào cuộc sống bằng cách hòa mình vào vòng quay kiếm tiền nghiệt ngã..để có tiền anh phải mưu mẹo, phải quên mình đi một chút, nhưng khi đã có tiền anh bị vòng bạch tuộc của nó quấn quýt..khiến anh muốn ra khỏi mà không thể thoát… . Cả 2 đều đau khổ và cô đơn..và đều cực đoan theo cách của những người lính. Cho dù thế nào đi nữa: anh là người lính trở về và thành công hay không thành công trong thời bình thì trong lòng anh luôn có nỗi cô đơn..đó có phải là một sự thật cay đắng không? Em không là lính mà chính em còn cảm thấy đắng ngắt!
        Những con người hiện lên trong truyện ai cũng có những số phận nghiệt ngã..HIển hiện trước mắt là cây si lồng lộng che chở số phận nhỏ nhoi của ông già Miến: người đàn ông lầm lỗi thời trai trẻ, đã buộc mình phải trả giá với cuộc sám hối dằng dặc hơn 40 năm…Lài: nữ chiến sỹ năm xưa trở về từ cuộc chiến dù không bị thương tích trênn chiến trường trong chiến tranh nhưng lại bị đánh gục ở hậu phương, trong thời bình bởi vũ khí tình-tiền khi đã là người vợ lính. Lài có tội không? rõ ràng với Hoán tội của Lài to lắm. Nhưng sâu xa thì những gia đình người lính: người mẹ, người vợ..đều chịu những hệ lụy khi có người thân ra trận. Mít: cô gái chung tình, đã phải chờ đợi và đau khổ cả thời con gái xa xôi..

        Phản hồi
        • 32. Hà Tĩnh  |  Tháng Mười Hai 30, 2009 lúc 8:45 sáng

          Hi hi khi em đọc xong lần 1, e chưa nói gì hết nhưng chỉ để lại nhận xét chung về những gợi mở sau khi đọc.
          Những ông già làm cho truyện thêm ý nghĩa: vì người già họ như là chứng nhân lịch sử, cuộc sống. HỌ đã sai lầm, đã trả giá. Họ như những điểm tựa cho các nhân vật, nhưng những chiếc gương soi rọi cho hậu thế.
          Cũng là những nhân vật cảm thấy tự mình đứng bên lề cuộc sống, nhưng Hoán, Sơn thể hiện sự thất vọng khi đi ra từ lí tưởng để trở về thực tế..thì nhân vật ông Miến lại như là một lời nhắn nhủ: mọi sai lầm đều phải trả giá..
          Ông Miến chưa từng biết chiến tranh, chưa từng ra trận, ông là hiện thân của những con người của cuộc sống bình thường với những buồn vui sướng khổ, những toan tính…Ông đã nghèo khổ, đã được cưu mang, đã có cuộc sống sung túc, ông đã lừa dối, đã gián tiếp gây điều ác và đã biết sám hối, đã tự trừng phạt mình bền bỉ…
          Cuộc sám hối bền bỉ mấy chục năm của ông cũng là mấy chục năm Hõm cây si ngầu ngầu màu của máu. Nươc chỉ trở lại xanh, dòng chảy chỉ có thể trở lại hiền hòa khi ông được tha thứ…Ánh mắt lạnh lùng của người vợ mãi mãi mấy chục năm như là sự thử thách và đo lường sự xác thực của sám hối trong lòng ông già Miến..

          Phản hồi
        • 33. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Mười Hai 30, 2009 lúc 9:32 sáng

          Lấy bản thân tôi ra thì thấy thật khó hòa nhập nhưng rút cục thì ai cũng thế vẫn phải sống. Phải sống. Và cái sự sống ấy mới cực nhọc làm sao và vì thế những âm hưởng truyên cuar tôi là nỗi buồn. Có thể có nguyên cớ nhưng đa phần là không. Buồn, cô đơn thế thôi.
          Nhân vật Lài phải nhìn ở cái nhìn cảm thông mới thấy hết được nỗi khổ của cô. Nhưng thực tế trong cuộc đời dù ở thời nào họ cũng vẫn bị lên án. Tôi nghĩ đơn giản họ là những số phận phải chịu trận của cái thời loạn lạc.

          Phản hồi
          • 34. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Mười Hai 30, 2009 lúc 9:35 sáng

            Ồ, coi những ông gia là chứng nhân thấy là lạ. Cây si chứng nhân đã đành. Phục Hà Tĩnh về sức đọc lại cất công viết còm. Mà nhiều ý tác giả cũng thấy phải suy nghĩ. Cảm ơn nhiều.

          • 35. Hà Tĩnh  |  Tháng Mười Hai 30, 2009 lúc 10:17 sáng

            nhân vật Lài thì e cũng đã nói qua rồi đó: nhìn từ góc độ của Hoán thì anh cho Lài có tội, Lài tước đoạt niềm tin của anh. Nhưng k có nghĩa là cô bị lên án từ góc nhìn khác. Lài là phụ nữ, là người thường. Cô cần được yêu thương, được chở che và đùm bọc bởi người đàn ông-người chồng trong khi Hoán ra trận, có thể những chiến dịch, những chiến thuật, những trận đánh cuốn hết tâm trí, gạt phăng cả những ham muốn bản năng ra ngoài. Vì thế với Hoán, với người thường thì Lài tội to lắm..Nhưng thực ra trong chiến tranh, những người vợ có chồng ra trận đã phải chịu bao nỗi khổ hữu hình và vô hình. Vì thế khi đọc về Lài thì e thấy thương cho những người phụ nữ đã đi qua cuộc chiến.

            Đúng như anh nói( hi hi anh nói chắc phải đúng rồi) người lính trở về họ thất vọng, họ cảm thấy bị gạt ra ngoài vòng xoáy lốc những cạm bẫy, bon chen, lọc lừa của cuộc sống nhưng họ vẫn phải sống, phải đấu tranh để vừa giữ gìn những niềm tin, vừa để có thể hòa vào cuộc sống. Như Hoán như Sơn, dù buồn, du cô đơn..dù nhìn thấy những cái xấu..nhưng vẫn phải sống …Đó là bi kịch thời hậu chiến của lính. Muốn sống thì phải vừa là mình, vừa không là mình…

          • 36. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Mười Hai 30, 2009 lúc 11:36 sáng

            Về Lài đã nói rồi mà. Cô cũng chỉ là nạn nhân. Nạn nhân của đời và nạn nhân của chính mình. Mà cái nạn nhân của mình mới khốn, mới khổ.
            Người lính cũng vậy thôi. Bạn tôi nhiều nhà văn lính, nết ăn nết ngủ, nếp sống vẫn nguyên như thời chiến dù bây giờ họ ở vào một hoàn cảnh khác. Có những thứ vĩnh viễn không thể thay đổi.

          • 37. Hà Tĩnh  |  Tháng Mười Hai 30, 2009 lúc 12:03 chiều

            Về Lài đã nói rồi mà…
            —————-
            nhân vật Lài thì e cũng đã nói qua rồi đó..

            ———————————-
            Nhà văn nói rồi mà, bạn đọc “cũng nói rồi mà”..cái này gọi là trao đổi ý kiến để đi đến đồng thuận!

          • 38. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Mười Hai 30, 2009 lúc 12:21 chiều

            Đồng thuận, nhất trí. Khe…khe…Ko biết Hà Tĩnh ở đâu, chúc mọi điều tốt đẹp ở năm mới nhé.

          • 39. Hà Tĩnh  |  Tháng Mười Hai 30, 2009 lúc 2:21 chiều

            Hihi anh Tiến, e mới lọ dọ vào quấy quả blog của anh, vẫn đang phải học để quen với cách đối thoại mà…
            E thì cũng ở đâu đây trên thế gian này thôi, có khi chiều nay mới bước sượt qua anh cũng nên đó chớ, cái khi nhà văn khẽ cau mày:” người với ngợm, đi với chả đứng, mắt để ở đâu hả?”..ấy mà….khe khe khe
            Từ giờ đến năm mới chắc vẫn còn lượn lờ nhà anh chán mà!
            Nhưng vẫn xin nhận lời chúc của anh, mong rằng anh cũng thế nhé! Năm mói nhiều tác phẩm mới…và đàm đạo văn chương tích cực, thỉnh thoảng xin chớ bực mình nều cái bạn đọc H.T có bị hâm hâm, dở dở…

          • 40. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Mười Hai 30, 2009 lúc 3:17 chiều

            Blog thì tui cũng mới chỉ học đòi Bọ Lập để mở ra từa tựa như cái thư viện nho nhỏ lưu giữ những sáng tác của mình. Rất vui khi có người vào xem rồi nhận xét này nọ. Cả chê lẫn khen đều là những lời trực tiếp (dù là thông qua mạng ảo) làm cho mình biết mà xem xét lại trang viết của mình. Văn chương khi đã in ra cũng như hòn đạn rời khỏi nòng súng không lấy lại được. Số phận nó người viết ko còn được định đoạt. Coi như xong. Có thêm những lời trên blog kể như là lãi. Văn veo mà lãi, thú quá còn gì.
            Chúc HT năm mới sớm là vì ngày mai tui đi chu du năm mới sẽ vắng mặt vài ngày. Thế thôi.

  • 41. Dong  |  Tháng Mười Hai 29, 2009 lúc 7:05 chiều

    Khả năng tiêu hóa của Hà Tĩnh ghê thật, anh Tiến cứ gọi là run bần bật, có một độc giả kiểu này, làm sao dám ngơi tay mà bia rượu được. Viết viết viết thôi !

    Phản hồi
    • 42. Thầy đồ trọc  |  Tháng Mười Hai 29, 2009 lúc 11:23 chiều

      Hà tĩnh nói đúng, kể cả trong blog này cũng hiện diện những ông già. Heheeee…..

      Phản hồi
      • 43. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Mười Hai 30, 2009 lúc 2:01 sáng

        Lại là hai ông già trọc lông lốc mới khoái chứ, phải không thầy đồ?

        Phản hồi
    • 44. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Mười Hai 30, 2009 lúc 1:59 sáng

      Thì run chứ sao. Được run âu cũng là cái sướng cái sung….người cho. Bia ruợu thì vẫn nhưng không viết thì đúng là uổng phí….một đời trai thật. Khe…khe….

      Phản hồi
  • 45. Hà Tĩnh  |  Tháng Mười Hai 30, 2009 lúc 11:13 sáng

    Đã là ông già Miến trói đời mình bên gốc cây si, lại còn làm nghề rèn..mà k phải bất cứ nghề nào khác. E k biết ý tác giả thế nào, nhưng từ phía em- như là một bạn đọc thì thấy là sự gắn kết rất giàu ý nghĩa. Ông Miến vốn là người đã phạm nhiều lỗi lầm, ông đã tước đi niềm tin của bao nhiêu người tốt, ông đã đẩy những người tốt vào chỗ chết…
    Nghề rèn là nghề bằng sức lực, sự khéo léo điều khiển lửa, nước, những cú đập…biến những cục sắt xù xì, những đồ dùng bằng sắt cùn, gồ ghề..thành những vật dụng cần thiết hay làm cho đẹp đẽ đẻ có thể dùng rất cần cho cuộc sống, nhất là những người nông dân…
    Một người được coi là đã làm bao nhiêu điều xấu ngày đêm gắng sức làm ra những đồ tốt, đẹp cho người khác..
    Cũng như sự rèn giũa tâm hồn của ông sao cho đạt đến một ngày khi từ trong nghi ngút khói hương một bà lão hiền hậu trìu mến nhìn ông và nói lời tha thứ.
    40 năm- bao nhiêu đêm tối, bao nhiêu tuần hương, bao nhiêu lời khẩn cầu đã không được chấp nhận, có lẽ chỉ vì sự sám hối không chỉ đến từ lời nguyện cầu mà phải được thể hiện bằng sự đổi thay từ trong tâm của mình. Không còn là sự tự trừng phạt mình nữa mà khi ông biết mở lòng mình ra để yêu thương và sẻ chia cho người khác. Cái đó mới thực sự là sám hối.

    Phản hồi
  • 46. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Mười Hai 30, 2009 lúc 11:28 sáng

    Cũng như sự rèn giũa tâm hồn của ông sao cho đạt đến một ngày khi từ trong nghi ngút khói hương một bà lão hiền hậu trìu mến nhìn ông và nói lời tha thứ.
    40 năm- bao nhiêu đêm tối, bao nhiêu tuần hương, bao nhiêu lời khẩn cầu đã không được chấp nhận, có lẽ chỉ vì sự sám hối không chỉ đến từ lời nguyện cầu mà phải được thể hiện bằng sự đổi thay từ trong tâm của mình. Không còn là sự tự trừng phạt mình nữa mà khi ông biết mở lòng mình ra để yêu thương và sẻ chia cho người khác. Cái đó mới thực sự là sám hối.

    Có lẽ chọn nghề rèn là vì thế chăng? Hà Tĩnh hỏi và đã tự trả lời rồi còn gì. Phục!

    Phản hồi

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Tháng Tám 2009
H B T N S B C
« Th7   Th9 »
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
31  

CHÀO KHÁCH

free counters

%d bloggers like this: