Người vạc thơ vào đất

Tháng Tám 20, 2009 at 9:47 chiều 34 comments

Tôi biết Hoàng Trần Cương bằng một kỷ niệm lạ lùng và thật khó lòng quên nổi. Đó là vào năm 1987, chú ruột tôi, Phạm Ngọc Bích, phó Tổng biên tập báo Lương thực( Sau là báo Nông nghiệp Việt Nam), khoe với tôi tờ báo Văn nghệ, in chùm thơ ba bài của Hoàng Trần Cương có bút tích tác giả tặng. Chú tôi lúc này đã về hưu và sống rất nghèo túng. Mẫu cán bộ như ông chú tôi nghèo là chuyện đương nhiên, lúc đương nhiệm, ông còn kiêm cả chức phó ban 79, tức là Ban chống tiêu cực của Bộ Lương thực thực phẩm, khi về hưu ông trả lại tất tật những thứ của cơ quan trang bị như máy chữ, giường tủ, phích nước…để trở thành người vô sản đúng nghĩa. Phải nói kỹ điều này vì ngoài tờ báo có chùm thơ, Hoàng Trần Cương còn mang đến tặng chú tôi ba yến gạo tẻ. Số gạo đó vào thời điểm năm 87 là một giá trị không nhỏ. Hỏi ra mới biết chú tôi nguyên là thủ trưởng cũ của anh.  Khỏi nói chú tôi mừng thế nào. Ba Lan 034Nhà thơ Hoàng Trần Cương (trái) và tác giả tại Amsterdam


Ông đọc liền một lèo cả ba bài cho tôi nghe, giọng lạc đi và mắt rưng rưng, ngấn lệ. Đến bây giờ, chú tôi đã ra người thiên cổ từ lâu, tôi vẫn không quên những câu thơ của Hoàng Trần Cương qua giọng đọc của ông hôm đó: Ôi cái đường chân trời- Thực đấy mà mơ đấy- Càng trông càng lộng lẫy- Càng đi càng xa vời- Phải vì anh đến muộn- Nên chiều buông mất rồi- Nói điều chi dữ dội- Ráng bập bùng khôn nguôi…(Đường chân trời.). Đọc xong ông thở hổn hển, chú tôi vốn là người ôm mộng văn chương nhưng thành tựu lớn nhất ông đạt được chỉ là tấm thẻ nhà báo,  tôi biết chú tôi xúc động vì nhiều nhẽ. Thơ, hiển nhiên rồi, cả ba bài ông đều tâm đắc (Đường chân trời, sau đó được Huy Du phổ nhạc), ba yến gạo cũng là một lý do nặng cân nhưng cái lẽ này mới là chính, ông đã về hưu, có người đến thăm đã là quý giá, đã là tình, là nghĩa, huống hồ cùng lúc được những mấy món quà quý nhường kia, rưng rưng là phải. Dường như chú tôi hiểu điều tôi vừa nghĩ, trong cơn xúc động, ông bốc đồng một cách cương quyết, xúc mang đi đủ một yến gạo, bán lấy tiền đãi tôi uống ruợu. Hôm đó cả hai chú cháu tôi đều say nghiêng ngả và một Hoàng Trần Cương- Nhà thơ, xuất hiện trong tôi từ đấy, bằng cái cách không giống ai, độc đáo vô cùng.

Cũng phải khá lâu sau, tôi mới được gặp Hoàng Trần Cương, dù rằng sau cái lần bán gạo uống ruợu đó, tôi đọc kỹ càng thơ anh in trên báo chí, nhất là những trích đoạn trường ca “Trầm tích”. Thú thật, thơ Hoàng Trần Cương khá ấn tượng, không mượt mà, chải chuốt như đa phần các nhà thơ khác. Cái chất rõ nhất của anh là những câu thơ quyết liệt về đất đai, con người xứ sở, như moi từ gan, từ ruột mình ra dù đấy là tâm trạng buồn đến thắt lòng hay niềm tự hào quá đỗi, hoặc giả nỗi bi phẫn đến ngất trời. Thơ Hoàng Trần Cương mộc thô như đất cằn miền Trung quê anh, bất ngờ về ý tưởng, dạt dào về cảm xúc, thật một cách hồn nhiên, bởi thật quá nên thơ anh lấn sang được biên bờ của cõi ảo, khiến tứ thơ nào cũng lạ, rất lạ. Đất đai như một thứ nguồn cội dẫn dắt thơ anh. Bài thơ đầu tiên Hoàng Trần Cương làm năm 17 tuổi có tên là Dư âm: “ Ta như Đất lặng câm mà dữ dội- Yên lành trải bình nguyên- Thanh thản dựng núi đồi- Em đừng trách ngày thường anh nông nổi- Màu trời nào chẳng mang xác một dòng sông chết trôi!”. Bài thơ cuốn theo suốt hành trình thơ, nó ám ảnh như một lời tiên tri, một định mệnh của đời thơ Hoàng Trần Cương. Tóm lại, thơ của anh, theo cách cảm của tôi, hoàn toàn phù hợp với ấn tượng ba yến gạo cộng ba bài thơ ban đầu, khiến tôi nhủ thầm, được, được, cha này được, thơ được và chắc chắn người cũng được, để rồi tôi nung nấu ý định gặp anh.

Hà Nội chật mà hoá rộng, lần gặp anh ở lễ trao giải thưởng thơ báo Văn nghệ 1991( Hoàng Trần Cương đoạt giải nhất) tôi bỗng ngần ngại vì một Hoàng Trần Cương ngoài đời khác xa với một Hoàng Trần Cương trong hình dung của tôi. Sao lại có thứ hình dong nhà thơ dữ dằn thế kia? Một khuôn mặt vâm váp, gân guốc như đang được tạo hoá tạc dở, góc cạnh, ngang tàng. Đôi mắt bị cặp lông mày lưỡi mác rậm rì nuốt chửng. Mũi, môi, da dẻ, tóc tai, đến thân hình chắc khừ như cối đá… thứ gì cũng thô thô, kệch kệch. Thêm vào đấy là lối nói sóng gió, thẳng băng “ăn tươi nuốt sống” không hạ cung bậc trước bất kỳ đối tượng nào. Tôi đâm chợn và đương nhiên lặng lẽ rút lui. Dễ có đến dăm, bẩy năm sau, dù nhiều lần chạm mặt ( anh cũng giống tôi ở cái thú thi thoảng cùng bạn bè nhâm nhi bia ruợu) tôi vẫn giữ khoảng cách với anh, dù niềm kính trọng thơ ca nơi con người có vẻ ngoài thô kệch kia cùng ấn tượng của kỷ niệm ông chú ruột bán gạo, uống ruợu năm nào vẫn không hề vơi giảm trong tôi. Cho đến khi trường ca “Trầm tích” của anh ra đời, nhân một cuộc vui trà dư, tửu hậu, mọi người bình luận nhiều chiều về tập thơ, tôi cao hứng cũng buột ra những nhận xét như đã nghĩ về anh thì nhà văn Nguyễn Quang Lập trợn mắt quát tôi: “ Sao ngu quá vậy, tướng tinh lão thế thôi nhưng tuyệt hay đấy!”. Tôi cũng chẳng hiểu vị nhà văn cùng tuổi Bính thân với tôi kia, nói Hoàng Trần Cương tuyệt hay là hay cái gì, văn  hay đời, nhưng nín lặng không tranh cãi. Như là cơ duyên, ngay hôm sau tôi có việc phải tìm gặp Lập và đụng ngay Hoàng Trần Cương. Nguyễn Quang Lập là người vốn không bao giờ giấu nổi điều gì, lại đang cao hứng việc chi đó, nên kiếm chuyện làm quà, phọt ngay ra câu chuyện hôm trước. Một thoáng buồn chạy dài trên vệt lông mày rậm dày của Cương. Anh thở dài, nói không có ý thanh minh, đại loại có không ít người vẫn hiểu lầm như thế. Cực chẳng đã, tôi phải kể lại những gì tôi ấn tượng về anh. Hoàng Trần Cương ngồi thừ ra, miệng cứ lẩm nha, lẩm nhẩm: “Ông Bích à…ông ấy tốt lắm…chính ông Bích, trước khi về hưu ký quyết định chuyển mình làm phóng viên. Dạo ông ấy mất…”. Tôi nhận ra một bên khoé mắt anh rân rấn. Cương quay mặt đi nhưng lại nhoài người, đưa bàn tay hộ pháp xiết tay tôi đau điếng. Chỉ chừng ấy đủ đưa anh em tôi lại gần nhau.

Chẳng cần nhiều thời gian, tôi nhanh chóng nhận ra một con người khác khuất lấp trong hình hài thô tháp kia. Một Hoàng Trần Cương thi sĩ, yếu đuối, đa cảm, đau đời nhưng yêu đời, luôn trầm buồn, tĩnh lặng song hành cùng một Hoàng Trần Cương mạnh mẽ, ồn ào, sống hết mình, làm việc hết mình, nồng nhiệt, chân thành trong tình cảm nhưng rành rẽ mọi chuyện, mọi nhẽ như cái nghề kế toán anh vận vào thân.

Hoàng Trần Cương tuổi Mậu tí 1948. Nhiều người biết anh là dân kế toán chính hiệu nhưng ít người biết anh từng là một người lính chiến thực thụ, một thương binh chống Mỹ. Năm 1967 anh trúng tuyển trường Tài chính kế toán Hà nội. Năm 1970 đang học dở năm thứ 4, Hoàng Trần Cương tình nguyện tham gia quân đội trong binh chủng phòng không. Trong biên chế của Sư đoàn 367 Anh hùng, Hoàng Trần Cương đã chiến đấu trên nhiều mặt trận: Bản Đông- Đường 9 Nam Lào 1971, giải phóng Quảng Trị năm 1972. Cuối năm đó trở ra Hà Nội, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, rồi quay lại chiến trường B và đánh trận cuối cùng giải phóng Sài gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Tôi có thói quen ai là lính, bao giờ tôi cũng đặc biệt trân trọng. Hoàng Trần Cương hơn thế, lại cùng lính phòng không với tôi. Tất nhiên loại lính sinh sau đẻ muộn như tôi so với anh chỉ là loại cò hôi hớt váng ruộng. Cánh nhà văn từng là lính bộ binh như Bảo Ninh, Trung Trung Đỉnh thường coi đám lính cao xạ chúng tôi là thứ lính kiểng, nhưng khi gặp Hoàng Trần Cương đều phải im re. Anh rướn lông mày, vỗ ngực bồm bộp, giọng vồng lên đầy tự hào: “ Đừng đùa với lính cao xạ nhé, pình, pình, pình!”. Bây giờ xấp xỉ sáu mươi tuổi, rời xa chiến trận đã vài chục năm nhưng mọi ứng xử của Hoàng Trần Cương dường như vẫn đậm đặc chất một anh lính. Mấy năm trước, Đài truyền hình Việt nam làm một phóng sự về các nhà văn trong Quân chủng phòng không, lúc quay ở Bảo tàng phòng không, Hoàng Trần Cương sướng đến phát cuồng, anh tót lên ghế số 1 của khẩu 37 hai nòng, quay vù vù, mặt rạng rỡ trẻ lại như anh lính tuổi hai mươi. Lại nói chất lính, tôi đã tái mặt chứng kiến anh hành xử trong một bữa nhậu. Hôm đó bàn bia khá đông, mọi người uống đã tới tầm, một người đùa thôi nhưng câu đùa có động chạm, xúc phạm đến lính tráng, chết nỗi người này lại chưa từng mặc áo lính bao giờ. Hoàng Trần Cương mím môi tức giận. Anh không nói, chỉ cặm cụi ngồi lấy dây chun cột đến sáu, bẩy cây đũa túm lại kiểu như cột lưỡi lê, thỉnh thoảng ngừng tay vuốt vuốt lông mày ( những lúc xúc động, vui hay buồn, anh hay làm động tác vuốt như thế). Mọi người hoảng hồn vì biết tính anh, đã động đến lính ắt hẳn Cương không chịu được. Chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu mọi người không vội vàng kéo cái người đùa vô duyên kia đi. Hoàng Trần Cương hực lên đâm mạnh cột đũa xuống bàn, toàn thân run lẩy bẩy, miệng méo xệch vì tức giận, vì kìm nén. Lúc đó anh đã là Tổng biên tập Thời báo Tài chính Việt nam.

Anh lính Hoàng Trần Cương rời quân ngũ ngay sau chiến tranh, về học nốt năm cuối đại học và hối hả lấy một cô giáo làm vợ. Chị Phan thị Chè quê Kinh bắc, bây giờ là cán bộ biên tập báo Nông nghiệp Việt nam, hẳn không thể ngờ, cuộc hôn nhân hoà bình của chị lại đằng đẵng, lại cách xa hệt như một cuộc sống chồng vợ chiến tranh đến thế. Cưới vợ cuối 75, ngay sau khi đậu cử nhân kinh tế năm 1976, Hoàng Trần Cương đã lại vác ba lô vào Sài gòn làm nhiệm vụ cải tạo công thương. Việc nọ dồn việc kia, mãi đến 1981 anh mới trở về Hà nội, nhận công tác tại báo Lương thực. Trong sáu năm ấy, anh chỉ về nhà bằng hai kỳ phép. Có một chi tiết này khiến Hoàng Trần Cương đận ấy dở mếu, dở cười. Vợ chồng anh xa nhau quá lâu, cả hai lần về phép đều trượt vì những lý do tế nhị, lúc gặp lại, mãi không sinh con nổi, anh chị phải dẫn nhau đi khấn bái cầu tự tại đền Bút Tháp, Chí Linh thờ Quan Vân Trường. Bây giờ kể lại, Hoàng Trần Cương cười khơ khơ khoe đứa con trai cầu tự ấy giống vị quan thời Tam quốc như đúc, đã nối nghề bố, công tác tại Học viện Tài chính, đứa con trai thứ hai đang năm cuối phổ thông. Những lúc cao hứng, anh lại mang chuyện cầu tự ra kể và khoái trá giễu cợt những kẻ sinh con gái một bề như tôi là đồ không biết đẻ. Có lần tôi phản công lại, nói anh mới chính tướng quan võ, giống nhất Quan Vân Trường ở cặp mày ngài, còn các con anh đều nho nhã thư sinh cả. Đang cười chợt anh se mặt, buồn hẳn. Điều đó thì tôi biết. Họ Hoàng của anh ở làng Đặng Lâm, xã Đặng Sơn, huyện Đô lương, Nghệ an thuộc gốc Mạc, phái hệ phó Quốc Vương Mạc Đăng Lượng. Mạc đăng Lượng là chú ruột Mạc đăng Dung và là cháu 11 đời của Lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi. Lịch sử thăng trầm, Mạc Đăng Lượng sau cải họ tên thành Hoàng Đăng Quang và là Tổ phụ của họ Hoàng Trần hiện nay ( nhà thờ dòng họ được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hoá.). Hoàng Trần Cương chính là cháu đời thứ 12 của Hoàng Đăng Quang. Anh luôn tự hào về dòng dõi văn võ song toàn của mình. Nhưng có người không ưa anh, độc miệng dèm pha, tướng võ biền như Hoàng Trần Cương chỉ có thể giỏi làm kinh doanh, làm tài chính. Nghĩa là họ nghi ngờ dòng dõi, nghi ngờ tài năng văn chương của anh. Cương buồn vì điều đó. Đến nỗi, khi biết tôi viết bài chân dung này, Hoàng Trần Cương đã lọ mọ mang cho tôi xem toàn bộ phả hệ của dòng họ anh ( theo sách Hợp biên thế phả họ Mạc- NXB Văn hoá dân tộc- 2001 ) để làm bằng. Phả hệ những đời gần nhất, ông nội anh là Hoàng Trần Siêu đậu cử nhân, được phong Hàn lâm viện học sĩ, từ chối làm quan. Bố và chú ruột anh đều tham gia Cách mạng từ rất sớm. Chú ruột anh Hoàng Trần Thâm, tỉnh uỷ viên hy sinh năm1931 ở tuổi đời 23.

Thói đời chuyện ấy chẳng có gì lạ, nhưng Hoàng Trần Cương vẫn buồn. Tính anh vẫn vậy luôn trầm buồn trong cái vỏ ồn ào, náo động. Nhiều lần anh kể cho tôi nghe về nỗi gian truân của đời mình. Tôi cố tưởng tượng ra hình ảnh một Hoàng Trần Cương, sáu tuổi rời làng quê Đặng Lâm theo cha ra Hà nội ngày Hoà bình lập lại. Học hết cấp 1 ở trường Ngọc Hà ( lớp học mượn đình Hữu Tiệp) thì bị nhà trường kỷ luật vì thành tích đạt học sinh cá biệt, đánh đấm nhau tùm lum, chẳng kiêng dè một ai. Sau đó anh bị bố đuổi về quê. Dân làng anh vốn hiền lành cũng chỉ chịu đựng được tên học trò nghịch ngợm có ba năm cấp hai. Một lần nữa anh lại bị điệu ra Hà Nội để đủn đi Hà Bắc sơ tán học cấp ba. Và lần này gia đình anh thở phào nhẹ nhõm khi anh yên ổn một lèo vào Đại học. Lúc về báo Lương thực, một tờ báo hạch toán tài chính, tự cân đối thu chi đầu tiên trong làng báo chí nước nhà, trong vai trò kế toán trưởng, Hoàng Trần Cương dù có những đóng góp rất lớn, anh vẫn hằng khao khát được chuyển làm phóng viên. Câu lẩm nhẩm của anh về ông chú tôi lúc trước chính nói về điều này. Năm 1993, Hoàng Trần Cương được chuyển về Thời báo Tài chính, cũng chỉ được làm phóng viên văn nghệ có sáu tháng, lại bị cấp trên điều động về nghề cũ. Sau 12 năm anh lại về với chức vụ cũ như ở báo Lương thực là kế toán trưởng kiêm trưởng phòng trị sự. Âu cũng là nghiệp. Mãi đến 1996, Hoàng Trần Cương mới rời nghề kế toán khi được đề bạt Phó tổng biên tập. Từ 2003 anh đảm nhiệm chức vụ Tổng biên tập tờ báo số một đất nước về lĩnh vực tài chính.

Khác với nhiều nhà thơ, nhà văn khác, Hoàng Trần Cương có vẻ lận đận trên con đường danh nghiệp. Viết từ tuổi 17, có giải thưởng Tạp chí Văn nghệ quân đội năm 1972, có sách in chung cũng trong năm ấy, nhưng phải đợi đến trường ca “Trầm tích” tên tuổi Hoàng Trần Cương nói theo kiểu Nguyễn Quang Lập mới: “Nổi như cồn. Nổi một cách hồn nhiên”. Tôi ngờ rằng Hoàng Trần Cương không mấy bận tâm đến điều này. Nhưng Nguyễn Quang Lập nói đúng, Cương quá hồn nhiên. Anh có thể tặng sách một nhà phê bình trẻ mới có tác phẩm đầu tay với lời đề tặng không giống ai, tặng để chú đọc giúp anh. Không ngần ngại, anh sẵn sàng đưa bản nháp bài thơ mới viết cho bất kỳ một kẻ ngoại đạo nào xem và cũng rất vui lòng chấp nhận những nhận xét nhiều khi là trời ơi, đất hỡi. Hoàng Trần Cương cũng không nề hà đọc thơ mình cho bạn bè nghe ở bất cứ chỗ nào nếu được yêu cầu. Không phải nhà văn nào cũng chấp nhận “ bình dân” như vậy đâu, đa phần họ thích xênh xang mũ cao, áo dài, vênh vang một mình một chiếu. Tôi thành thực cho rằng đấy là cái nết đáng quý của Hoàng Trần Cương. Chẳng lào phào chút nào, đấy chính là sự quý trọng văn chương của một nhà thơ đích thực. Cũng chỉ có nhà thơ đích thực mới hành xử đậm chất người như vậy.

Tôi không nhớ ai nói, “Trầm tích” là sự thành quả công sức lao động cật lực của anh thợ đấu Hoàng Trần Cương. Không cần tìm nghĩa của cụm từ “anh thợ đấu” làm gì cho mệt, hiếm có một tác phẩm nào lại giành cú hat-trích giải thưởng ngoạn mục đến vậy. Trong đúng một thập kỷ chín mươi, Hoàng Trần Cương đậu Tam nguyên bằng chỉ một “Trầm tích” ( giải nhất báo Văn nghệ, giải Bộ Quốc phòng, giải thưởng Hội nhà văn). Đấy là chưa kể đến giải thưởng mới đây nhất của tỉnh Nghệ an- giải đặc biệt- văn học nghệ thuật Hồ Xuân Hương 1997-2002 trao cho “Trầm tích”. Mừng cho anh.

Lại nhớ trong một chuyến đi thăm và làm việc tại Ba Lan của đoàn nhà văn Việt Nam, tôi đã chứng kiến Hoàng Trần Cương trích đọc “Trầm tích” trước một đám đông người Việt xa xứ. Nhân nói chuyện đọc thơ, ở điểm này anh cũng rất khác người. Thơ Hoàng Trần Cương có những đoạn sử dụng nhiều động từ. Cách đọc của anh, giọng miền Trung đã đành, lại băm bổ ào ào không tuân thủ ngữ điệu, càng làm mạnh thêm động từ trong thơ. Anh đọc thẳng tuột một lèo, không nhấn nheo, lên trầm, xuống bổng. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, một người đọc thơ rất có duyên nhắc vui: “Vừa vừa thôi, đọc oang oang như cãi nhau vậy còn gì là thơ nữa.”. Làm sao có thể khác được, khác đã không phải là anh. Hoàng Trần Cương đứng nghiêm như người lính chào cờ, mắt trừng trừng nhìn cử toạ. Nhìn đấy mà không phải là nhìn. Anh đang nhìn vào tâm can mình, nhìn vào ký ức tháng năm của một thời giặc giã, nhìn vào đồng đất, rơm rạ quê nghèo, nhìn vào nghĩa cha, tình mẹ…Nhìn và đọc. Giọng anh vang vang như liên thanh: “ …Người đã khuất vẫn cưu mang người đang sống- Ngôi mộ là chứng nhân- Những chứng nhân mọc và rụng không bất ngờ với đất- Đất hiến trao- Đất lại nhận về…”. Lúc đấy tôi có cảm giác Hoàng Trần Cương như một người nông dân đang đứng trên đồng ruộng quê mình vạc vỡ thơ vào đất. Cả hội trường lặng đi xúc động. Nhiều người quay mặt lau nước mắt. Trong số đó tôi biết có những người bỏ Tổ quốc ra đi trong những ngày binh đao, khói lửa.

Hoàng Trần Cương là vậy, ngay cả nết chơi cũng khác, ai đã thân với anh không thể không công nhận nết thương bạn, thương mình rất thi sĩ của anh. Hôm đi từ Ba lan đến Bec-Lin, phần vì sơ ý, phần vì chuếnh choáng say, tôi đánh mất chiếc bao da đựng tiền, điện thoại. Không suy tính, Hoàng Trần Cương rút soạch cái ví, mở ra vét hết tiền toẽ làm đôi, ấn cho tôi một nửa: “Cầm lấy, còn phải tiêu nhiều đấy.”. Tôi không nhận khiến anh hậm hực, buồn nản mất đứt một ngày trời. Tự nhiên tôi nhớ đến nhà thơ Bùi Việt Phong, Phó tổng biên tập báo Lao động, người bạn vong niên từng in chung tập thơ với Hoàng Trần Cương. Lúc nhận giải thưởng thơ báo Văn nghệ, Hoàng Trần Cương quyết định thay chiếc ti vi National, 4 chân, cửa lùa, đen trắng, từng gắn bó nhiều năm với gia đình anh bằng một chiếc ti vi mầu đời mới. Dạo đó còn nghèo lắm, không phải ai cũng đã sắm nổi ti vi. Cương tặng lại Bùi Việt Phong chiếc ti vi kỷ niệm. Thấy Phong ngần ngại, anh dúi cho bạn ít tiền bảo: “Coi như là mua, ngại gì.”. Lúc Phong đến lấy ti vi, lúng túng đưa tiền cho vợ Hoàng Trần Cương. Ngần ấy năm chung sống, sao không hiểu tính chồng, chị Chè mỉm cười độ lượng: “Chú buồn cười thật, của anh cũng là của chị, sao lại tiền nong ở đây. Anh em chú chở ti vi về đi.”. Chuyện rồi cũng qua. Chở ti vi về về ngang đường, hai người uống bia một trận cho kỳ hết số tiền kia mới thôi. Uống hết một cái ti vi, Hoàng Trần Cương lại cười khơ khơ, điệu cười không giống ai, chợt tắt lịm giữa chừng. Giọng anh ngạt đi: : “Thương Phong quá…”. Bùi Việt Phong mất vì bạo bệnh đã mấy năm nay.

Còn nhiều nữa về một anh kế toán làm lính, làm báo, làm thơ. Nhưng thôi, tất thảy đều không quan trọng. Ngày ngày, Hoàng Trần Cương đều đặn đến trụ sở toà báo, ngồi vào chiếc ghế Tổng biên tập. Một ngày của anh là tin bài, là vốn lãi, là tiền bạc, là tài chính, thuế má… Hoàng Trần Cương nghiêm nghị, chính xác, quyết đoán, mạnh mẽ trong trách vụ của một viên chức ngành tài chính, để rồi đêm đến anh trở về ngôi nhà thân yêu với những người thân yêu của mình. Lại một Hoàng Trần Cương khác, trầm buồn, khắc khoải nhân tình thế thái, đau đáu với những con chữ mang tình yêu, nỗi đau, hạnh phúc của đất đai, con người.

…Mẹ ơi- Khoản vay nào rồi cũng phải trả- Chưa trả được bây giờ- Thì khất đến ngày mai- Nhưng sẽ không có nhiều ngày mai lắm đâu- Và con càng không thể- Gán cho mai sau- Dù một cắc nợ nần…Những câu thơ không thể lẫn với ai, thảng thốt, ám ảnh, da diết rất quyết liệt và sòng phẳng kiểu Hoàng Trần Cương.  Một Hoàng Trần Cương thi sĩ với “Trầm tích” đã kết thúc, và những “Địa Linh, Đỉnh vua”- trường ca mới bắt đầu.

PNT


Thơ Hoàng Trần Cương

BA LÔ TRÊN PHỐ

Một sáng ra đường

Anh lặng người trước những chiếc ba lô

Trên vai các em quàng vào phố xá

Những chiếc ba lô vừa quen vừa lạ

Bàng hoàng anh nắn lại bờ vai

Những chiếc ba lô không một bóng lá cài

Sao như có màu xanh thuở ấy

Màu xanh

Của một thời anh từng mơ đấy

Bây giờ cười nói líu lô

Những chiếc ba lô

Sớm tinh mơ cơ động đến trường

Các em chở bình yên về rợp phố

Nghẹn ngào, anh rướn nhìn theo…


11/1997

CHÙM THƠ CHƯA HÁI

Tưởng nhớ Vương Lân

Nắng cũng biết già đến thế Lân ơi

Hoàng hôn đại ngàn dìu nhau về núi

Gốc săng lẻ nào mày từng ngồi làm thơ và nhớ mẹ

Cuốn nhật ký mỏng dần theo đêm sáng trăng

Nửa cuốn vở sót lại toàn giấy trắng

Đứt ngang

Thác nắng

Đầu ngày

Sao không là tao mà lại là mày

Sao không cả hai thằng một lúc

Nhớ chiều mày hy sinh

Đất Quảng Trị ghì mình vào những chùm thơ chưa hái

Những nỗi niềm đang ráo riết xanh

Tận bây giờ mỗi bữa nắng hanh

Mày vẫn về với tao giữa những câu thơ viết vội

Nói một điều gì đi Lân ơi

Đừng bắt tao ngồi ngậm tăm

trước nửa phần giấy trắng…


30/4/1995

GIẢI PHÁP

Nhiều lúc anh muốn bứt đi dòng hồi tưởng của mình

Những ký ức từng làm em sây xẩm

Khi sốt rét quật anh ngã sấp

Buổi động trời vết thương cũ nghiến răng

Nhiều lúc một mình ngồi muốn nuốt chửng cả mùa trăng

Khi rạng lên trong anh những gương mặt đã tản vào năm tháng

Những chiếc áo của đồng đội anh nếu đem ghép lại

Chắc cũng đủ căng lên thêm một bầu trời

Nhiều lúc quá khứ bị chính anh lơ đãng bỏ rơi

Ngước lên bàn thờ bắt gặp đôi nén hương đói lửa

Những nén hương khắc khoải cong xoắn vòng vấn hỏi

Khói bay tìm trời xưa

Vuốt nỗi nhớ cồn cào xuống ngực

Và nằm xoài anh ôm anh trên đất

Chợt gặp lại những tấm bia đã mờ tên đồng đội

Đứng im lìm giữa dãy dọc, hàng ngang

Không hiểu sao những tấm bia đều ngoảnh mặt về làng


TRƯỚC NGHĨA TRANG TRƯỜNG SƠN

Không có gió

Không có mưa

Chỉ có

Trời ở trên đầu

Cỏ ở chốn đây

Xanh tróc da như nọc nanh trổ vuốt

Đứng canh nơi các anh nằm

Tôi trở lại Trường Sơn. Mười năm

Và gặp ở đây những người không về nữa

Đồng đội ơi, tôi tội tình chi rứa

Mà các anh quay mặt, tắt lòng

Như tôi chưa từng là người thân của các anh

Như cuộc chiến tranh vừa qua, tôi là thằng trốn chạy

Như mười năm xa. Tôi đã sống xuôi tay

Không ngó đến tương lai. Không đoái hoài kỷ niệm

Đá dựng tượng đài mang dáng những trái tim

xếp nghiêng

Những phiến đá chất chồng lớp lớp tuổi thanh niên

Tạc đất nước thành Trường Sơn sừng sững

Dấu tên riêng trong hoang vắng rừng già

Rời nghĩa trang

Tôi lật đật về nhà

Thấy mây trắng bay ngang

Bỗng dưng lòng bật khóc

Trong đầu lựng ngọn gió ngày xưa

Còn tóc đâu mà sợ bạc

Chỉ có nơi các anh nằm gác

Hàng năm

Cỏ rũ rượi xanh

Và những tấm bia

Vẫn yên lặng xếp hàng để choàng thêm màu trắng

Và ngày ngày

Mặt trời lại sà xuống nơi này vay nắng…


Trường Sơn 1985

Advertisements

Entry filed under: Chân dung.

Gió làng Kình-Tập 1 Gió làng Kình- 2

34 phản hồi Add your own

  • 1. meogia  |  Tháng Tám 21, 2009 lúc 1:54 chiều

    Hóa ra anh giai tới Ams rồi cơ à, cũng vi vu quá nhỉ! Chắc hồi đó là mùa thu.

    Phản hồi
  • 2. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 21, 2009 lúc 3:00 chiều

    Tháng 10 dương lịch. Ngại đi lắm thi thoảng làm một chuyến cho nó lành.

    Phản hồi
  • 3. meogia  |  Tháng Tám 21, 2009 lúc 3:22 chiều

    Bài “Truoc nghia trang Truong Son” của bác Cương hay, xót xa quá! Đúng đấy, em cũng có cảm giác cỏ trong nghĩa trang xanh hơn bình thường, nhưng “Xanh tróc da như nọc nanh trổ vuốt…” thì độc đáo thật. Cám ơn anh Tiến đã giới thiệu thêm một chân dung.

    Phản hồi
  • 4. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 21, 2009 lúc 5:23 chiều

    Ông này cực hay. Cái chân dung này viết cũ rồi. Sau này in vào sách sẽ viết lại. Thơ cũng vậy, trường ca Trầm tích đọc sướng lắm. Vừa nhờ Ly làm lại blog.

    Phản hồi
  • 5. meogia  |  Tháng Tám 21, 2009 lúc 5:32 chiều

    Thảo nào, đang tính khen anh có áo mới! Đẹp giai hẳn!

    Phản hồi
    • 6. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 21, 2009 lúc 5:35 chiều

      Cháu Ly đến cơ quan làm giúp, dạy cách biết liên kết blog. Nói chung là ổn về mặt kỹ thuật rồi. Khe…khe…

      Phản hồi
  • 7. meogia  |  Tháng Tám 21, 2009 lúc 5:35 chiều

    Khakhakha, bây giờ mới để ý có chú mèo, mèo này là mèo trí tuệ đây, có cái nhìn cực thông minh, còn chau mày, vẻ đăm chiêu nữa!

    Phản hồi
    • 8. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 21, 2009 lúc 5:42 chiều

      Cũng là Ly chọn cho. Tui ngờ thằng mèo này với cái mắt ấy nếu là người thì không biết…uống rượu. Khe…khe…

      Phản hồi
  • 9. Small  |  Tháng Tám 21, 2009 lúc 8:40 chiều

    Chú Tiến thật tinh tế khi chọn đôi mắt của con mèo này làm hình ảnh trang trí cho blog. Khi mở blog ra, đập ngay vào mắt là đôi mắt trong veo, khôn ngoan của chú mèo, he he, đó là mục đích của chú Tiến mà 🙂

    Meogia nhận xét về cái nhìn của con mèo “bây giờ mới để ý có chú mèo, mèo này là mèo trí tuệ đây, có cái nhìn cực thông minh, còn chau mày, vẻ đăm chiêu nữa” sao mà giống với những lời nhận xét của chú Tiến thế? :), hèn gì chú chỉ muốn dùng đôi mắt của con mèo làm hình nền blog.

    Phản hồi
    • 10. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 23, 2009 lúc 7:52 sáng

      Không có Small thì chú có thích cũng chịu không chọn được mắt mèo.

      Phản hồi
  • 11. Small  |  Tháng Tám 21, 2009 lúc 8:46 chiều

    Cảm ơn chú về bài viết hay, từ nay cháu được biết thêm một người bạn của chú nữa rồi.
    “Hoàng Trần Cương rút soạch cái ví, mở ra vét hết tiền toẽ làm đôi, ấn cho tôi một nửa: “Cầm lấy, còn phải tiêu nhiều đấy.””
    Chỉ cần hành động này thôi cũng đủ để hiểu một phần bản chất của người ấy rồi, rất tốt với bạn bè! Có người bạn như thế này thật đáng quý!

    Phản hồi
    • 12. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 23, 2009 lúc 7:56 sáng

      Nhưng nhiều khi cũng mệt với bác ấy lắm. Say lên hay đấm xuống bàn. Cũng rất lạ khi đấm xuống cả một rừng bát cốc nhưng bao giờ cũng không đụng đám sành sứ thủy tinh ấy dù đấm rất mạnh và không nhìn.

      Phản hồi
  • 13. Hồng Chương  |  Tháng Tám 21, 2009 lúc 10:34 chiều

    Tôi thỉnh thoảng vẫn vào đọc anh nhưng e thẹn chưa còm. Coi như đây là còm xã giao làm quen. Nghe tin anh sắp đi TQ tìm thuốc chữa bệnh, chúc anh mọi sự tốt lành.

    Phản hồi
    • 14. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 23, 2009 lúc 8:04 sáng

      Cảm ơn anh. Rất vui vì được làm quen nhau. Tôi tìm gặp một ông thầy Tàu có những bài thuốc rất lạ. Nhưng ông này ko phải ai cũng nhận chữa. Gặp được rồi thì lại thấy muốn viết về ông ấy quá mà chưa được cho phép. Đời sống có những nhân vật thật kỳ dị. Thuốc chưa biết thế nào nhưng thấy khoái người quá.

      Phản hồi
  • 15. xuanhoa30869  |  Tháng Tám 22, 2009 lúc 7:57 sáng

    em cũng chúc anh như vậy nhé!chúc anh tìm được thuốc chữa có kết quả tốt nhất-để khi trở về lại tiếp tục được chị em xin địa chỉ để thực hiện ước mơ dang dở…

    Phản hồi
    • 16. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 23, 2009 lúc 8:07 sáng

      Không cần phải thuốc thì khết quả vẫn tốt nhất. Khe…khe…

      Phản hồi
  • 17. meogia  |  Tháng Tám 22, 2009 lúc 7:06 chiều

    Dang vi vu ha anh giai?

    Phản hồi
  • 19. meogia  |  Tháng Tám 23, 2009 lúc 4:18 chiều

    Em muon email hoi anh cai nay ma ngai ngai.

    Phản hồi
  • 20. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Tám 23, 2009 lúc 5:18 chiều

    Cứ hỏi đi ngại gì. Có email chưa?

    Phản hồi
  • 21. meogia  |  Tháng Tám 23, 2009 lúc 9:10 chiều

    Co roi. Thoi de hom nao em thay thuan tien da. Mo loi bao gio cung kho. Nhung dam bao khong co vu nho xem kich ban, khekhekhe.

    Phản hồi
  • 23. MuaThuHaNoi  |  Tháng Tám 31, 2009 lúc 11:41 chiều

    Bác Hoàng Trần Cương này cùng nghề với em. Ngày xưa cứ mỗi lần đi họp kế toán về các “nạ dòng” bàn tán xôn xao về bác ấy.
    Thời gian nhanh quá, giờ mình cũng là “nạ dòng” đọc thơ của bác ấy. Em không trải qua những năm tháng về chiến tranh nên chưa cảm nhận được cái hay trong thơ của bác…

    Bác này cũng giống em về sự nghiệp, kế toán và … nhân sự. Một nghề cần kiến thức toán, một nghề cần kiến thức về văn…

    Phản hồi
    • 24. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Chín 1, 2009 lúc 1:46 sáng

      Giống về sự nghiệp, kế toán và…nhân sự. Nhưng lại chưa cảm nhận được cái hay trong thơ của HTC vì chưa trải qua những năm tháng chiến tranh thì nhà thơ sẽ rất buồn dù lý do là có cơ sở. Nếu HTC đọc những dòng đó sẽ…MTHN biết ông ấy phản ứng thế nào lúc đã say không? Đố đấy.
      Hoàng Trần Cương sẽ gầm lên và…khóc. Như một đứa trẻ. Thật đấy!

      Phản hồi
  • 25. meogia  |  Tháng Tám 31, 2009 lúc 11:47 chiều

    “….Khoản vay nào rồi cũng phải trả- Chưa trả được bây giờ- Thì khất đến ngày mai- Nhưng sẽ không có nhiều ngày mai lắm đâu- Và con càng không thể- Gán cho mai sau- Dù một cắc nợ nần…”,

    Mấy câu thơ này hay thật, nhưng cũng rõ ràng, rành mạch như dân kế toán nhà bác Cưong vậy.

    Phản hồi
    • 26. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Chín 1, 2009 lúc 1:52 sáng

      meogia rất tinh. Tui nghe đọc lần nào những câu này cũng xúc động lệ tràn mi. Chỉ là vay-trả, nay-mai…rành mạch, rõ ràng nhưng lại chứa đựng bao thế thái, tâm tình bao uẩn khúc, trắc trở cõi người trong đó. Cũng lạ, tui chỉ thích nghe chính tác giả đọc vào những lúc say.

      Phản hồi
  • 27. meogia  |  Tháng Mười 6, 2009 lúc 8:50 sáng

    PNT ơi, Bên Lê Thiếu Nhơn mới có bài về bác Hoàng Trần Cương, anh đọc chưa?

    Phản hồi
  • 28. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Mười 6, 2009 lúc 9:04 sáng

    Chưa đọc meogia ạ.

    Phản hồi
  • 29. Giao trọc Balan  |  Tháng Mười 6, 2009 lúc 10:24 chiều

    Bài viết hay với những nhận xét tinh tế. Mình gặp Hoàng Trần Cương ở Balan và không thể quên Bác ấy. Cám ơn Tiến đã gợi lại kỷ niệm.

    Phản hồi
  • 30. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Mười 7, 2009 lúc 12:54 sáng

    Hoàng Trần Cương mới rời chức vụ Tổng biên tập báo Tài chính để về hưu. Giờ thì còn chức Giám đốc quỹ hỗ trợ văn học Việt Nam- Ba Lan. Một chức vụ hữu danh vô thực, đúng hơn gọi là hão. Tui làm phó cho ảnh. Gọi hão là vì chẳng hoạt động gì vì không có…sìn. Khe…khe….

    Phản hồi
  • 31. Giao trọc Balan  |  Tháng Mười 7, 2009 lúc 11:13 chiều

    Khủng hoảng mọi nhẽ, hehe…

    Phản hồi
  • 32. Phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Mười 8, 2009 lúc 12:32 sáng

    Hơn cả khủng hoảng. Khe…khe….

    Phản hồi
  • 33. HTV  |  Tháng Sáu 13, 2010 lúc 12:36 chiều

    “Một khuôn mặt vâm váp, gân guốc như đang được tạo hoá tạc dở”… vạc thơ vào đất. Hay quá. Nếu không đọc bài này em chẳng cảm tình HTC vì thơ thì thích thật, nhưng gặp ngoại đời anh vạc ghê quá. Có lần em gặp anh ấy ở quán bia, anh ấy nói bậy không nể gì phụ nữ, vậy là sợ. Nhưng thơ thì vẫn thích đọc. Nếu được dù chỉ 3 kg gạo gốc Nghệ An thì sẽ có ngay quan điểm: Anh ấy nói bậy trước mặt phụ nữ vì bình đẳng với phụ nữ:)
    Chân dung này góc cạnh như chính nhân vật. Tuyệt anh ạ. Cám ơnâm váp, gân guốc như đang được tạo hoá tạc dở…

    Phản hồi
    • 34. phạm Ngọc Tiến  |  Tháng Sáu 13, 2010 lúc 2:20 chiều

      Hoàng Trần Cương là người thật hiếm thấy và là một nhà thơ hay cũng…hiếm thấy.

      Phản hồi

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


Tháng Tám 2009
H B T N S B C
« Th7   Th9 »
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
31  

CHÀO KHÁCH

free counters

%d bloggers like this: